Category 6

kenhyte

Bộ Y tế 2018: Hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí sốc phản vệ


Bộ Y tế vừa ban hành Thông tư số 51/2017/TT-BYT Hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ. Thông tư nói rõ, Adrenalin là thuốc thiết yếu, quan trọng hàng đầu, sẵn có để sử dụng cấp cứu phản vệ.
 Tài liệu dowload

Theo đó, Thông tư này hướng dẫn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ, và được áp dụng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Sốc phản vệ là mức độ nặng nhất của phản vệ do đột ngột giãn toàn bộ hệ thống mạch và co thắt phế quản có thể gây tử vong trong vòng 1 vài phút.

Thông tư quy định rõ, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bác sĩ, nhân viên y tế phải đảm bảo các nguyên tắc dự phòng phản vệ: Chỉ định đường dùng thuốc phù hợp nhất, chỉ tiêm khi không sử dụng được đường dùng khác.


Không phải thử phản ứng cho tất cả thuốc trừ trường hợp có chỉ định của bác sĩ.

Không được kê đơn thuốc, chỉ định dùng thuốc hoặc dị nguyên đã biết rõ gây phản vệ cho người bệnh. Trường hợp không có thuốc thay thế phù hợp mà cần dùng thuốc hoặc dị nguyên đã gây phản vệ cho người bệnh phải hội chẩn chuyên khoa dị ứng – miễn dịch lâm sàng hoặc do bác sĩ đã được tập huấn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ để thống nhất chỉ định và phải được sự đồng ý bằng văn bản của người bệnh hoặc đại diện hợp pháp của người bệnh.

Việc thử phản ứng trên người bệnh với thuốc hoặc dị nguyên đã từng gây dị ứng cho người bệnh phải được tiến hành tại chuyên khoa dị ứng – miễn dịch lâm sàng hoặc do các bác sĩ đã được tập huấn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ thực hiện.

Tất cả các trường hợp phản vệ phải được báo cáo về Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc hoặc Trung tâm Khu vực TP.HCM về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc theo quy định hiện hành….

Theo Thông tư, Adrenalin là thuốc thiết yếu, quan trọng hàng đầu, sẵn có để sử dụng cấp cứu phản vệ. Bác sĩ, nhân viên y tế phải nắm vững kiến thức và thực hành được cấp cứu phản vệ theo phác đồ…

Theo: D. Hải (Sức khỏe và Đời sống)

Sử dụng thuốc như thế nào là đúng cách?

Việc sử dụng thuốc đúng cách sẽ phát huy hết tác dụng của thuốc từ đó đẩy nhanh quá trình chữa lành bệnh, ngược lại nếu dùng sai cách sẽ giảm hiệu quả điều trị và nguy hiểm hơn là có thể gây hại cho bản thân. Sau đây là những chỉ dẫn về việc dùng thuốc như thế nào là đúng cách mà bạn nên lưu lại.
Dùng thuốc đúng cách để phát huy tác dụng của thuốc

Đối với dạng bào chế

Nếu là thuốc viên nén, cần uống thuốc nguyên viên với nước đun sôi để nguội. Tuy nhiên, với thuốc kháng acid dùng trong điều trị viêm loét dạ dày thì lại phải nhai trước khi uống.
Đối với dạng viên nén sủi bọt thì cần hòa tan thuốc hoàn toàn trong nước (pha đúng lượng nước trong tờ hướng dẫn sử dụng hoặc hướng dẫn của bác sĩ, dược sĩ), và uống hết.
Dạng thuốc bao tan ở ruột, thường được bào chế dạng viên nén bao phim (do được bọc một lớp phim mỏng) nên thuốc không bị tan khi đến dạ dày. Lớp phim này sẽ tan rã và thuốc được phóng thích khi đến ruột. Nhờ bao phim, thuốc không bị dịch vị ở dạ dày phân hủy, và do đó không gây tổn hại niêm mạc dạ dày. Vì vậy cần phải nuốt nguyên viên thuốc.
Một số dạng bào chế đặc biệt, thường là thuốc trị đau thắt ngực thì có hướng dẫn là ngậm, hoặc đặt dưới lưỡi, cho thuốc tan từ từ.
Đối với thuốc viên nén nhưng để dùng ngoài (như thuốc đặt âm đạo), cần nhúng ướt viên thuốc trước khi dùng để tránh trầy xước niêm mạc âm đạo.
Đặc biệt, với dạng thuốc có tác dụng chậm (hay thuốc có tác dụng kéo dài), là dạng thuốc phóng thích hoạt chất liên tục, từ từ, với tốc độ được kiểm soát trong thời gian dài (thường là 12 giờ)… Do dạng thuốc này thường chứa liều cao hơn dạng thuốc thông thường, nên lưu ý khi dùng phải đúng số viên, số lần và thời gian uống thuốc trong ngày theo chỉ định của thầy thuốc, nếu không có thể bị nguy hiểm do quá liều. Dạng thuốc này cần phải nuốt nguyên viên.

Cách dùng nước để uống thuốc

Một số bệnh nhân dùng ít nước hoặc thậm chí là không dùng nước để uống thuốc mà nuốt khan viên thuốc. Với cách này, thuốc có thể bị vướng, mắc ở thực quản gây tổn thương thực quản. Mặt khác, do không có đủ nước để làm tan thuốc, một số loại thuốc sẽ kết thành sỏi trong cơ thể.
Do vậy, khi uống thuốc cần lưu ý là phải uống với khoảng 100-150 ml nước để làm hạn chế tác hại này của thuốc. Không nên dùng với các loại nước khác như sữa, nước hoa quả, trà, côca, cà phê, rượu… đều có tương tác với thuốc, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, thậm chí gây hại.

Uống thuốc thế nào là đúng?

Một số bệnh nhân uống thuốc ở tư thế nằm hoặc uống thuốc xong lại đi nằm ngay. Đây cũng là một cách uống thuốc không đúng. Khi anh/chị uống thuốc ở tư thế này, thuốc chưa kịp trôi xuống dạ dày, rất dễ bị dính vào vách thực quản, không những giảm hiệu quả điều trị mà còn gây kích ứng thực quản, dẫn đến ho, viêm, thậm chí tổn thương thực quản. Bởi vậy, nên ngồi hoặc đứng khi uống thuốc, sau đó khoảng 10-15 phút mới nên đi nằm.
Quan niệm rằng nghiền thuốc ra để uống cho dễ và thuốc nhanh có tác dụng hơn là một sai lầm. Mỗi dạng bào chế thuốc đều nhằm mục đích điều trị riêng nên cần tuân thủ cách đưa thuốc vào cơ thể theo đúng hướng dẫn. Chẳng hạn như với thuốc dạng tác dụng chậm, phóng thích dần vào cơ thể, nếu anh/chị nghiền nhỏ ra, thuốc sẽ cho tác dụng cấp tập một lần, gây nguy hiểm.
Đối với trẻ nhỏ, nếu không nuốt được cả viên, anh/chị nên trao đổi với bác sĩ về điều này để được đổi dạng thuốc hoặc được hướng dẫn xem loại thuốc đó có thể nghiền nhỏ hay không.
Đối với dạng thuốc nước không được uống thuốc thẳng từ chai, lọ thuốc. Cách uống thuốc này sẽ không kiểm soát được chính xác liều lượng của thuốc mà còn làm thuốc bị nhiễm bẩn, biến chất. Cần dùng dụng cụ đo lường đi kèm theo chai, lọ thuốc đó để đong thuốc.

Thời điểm uống thuốc

Thời điểm uống thuốc là rất quan trọng. Thuốc có thể được uống vào trước ăn (lúc bụng rỗng), sau ăn (lúc bụng no) hoặc trong khi ăn. Khi đi khám bệnh được kê đơn thuốc, bác sĩ thường căn dặn bệnh nhân điều này, bệnh nhân cần tuân thủ để thuốc phát huy tối đa hiệu quả của thuốc.
Trường hợp là thuốc không kê đơn, người bệnh cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng xem thời điểm uống thuốc đó vào lúc nào. Nếu trong hướng dẫn không có lưu ý về thời điểm uống, thuốc đó uống vào thời điểm nào cũng được.
Không nên uống bù: Nhiều bệnh nhân tới giờ uống thuốc nhưng lại quên không uống. Đến lần uống sau uống bù hai liều cộng lại.  Điều này sẽ gây hại làm cho nồng độ thuốc trong máu tại thời điểm uống thuốc tăng cao, có thể gây nguy hiểm.
Với bệnh nhân phải dùng nhiều loại thuốc, đặc biệt là ở người cao tuổi, mắc nhiều bệnh, để tránh quên thuốc, họ thường uống thuốc cùng một lúc rất dễ gây ra các tương tác bất lợi. Vì vậy, cần hỏi kỹ bác sĩ về thời điểm dùng các loại thuốc và bệnh nhân cần tuân thủ.
Khi mới uống thuốc xong không nên vận động ngay. Bởi sau khi thuốc vào đến dạ dày, phải mất 30-60 phút thì thuốc mới phát huy tác dụng. Quá trình này cần có đủ lượng máu tham gia tuần hoàn. Việc vận động ngay sau khi dùng thuốc thì tuần hoàn sẽ phải tăng cường lượng máu đến hệ vận động, làm giảm lượng máu đến các cơ quan nội tạng và làm giảm hiệu quả hấp thu thuốc.
Nguồn:Nguoibenh.com

Suy thượng thận, hoại tử khớp vì chữa ngứa da đầu sai cách

Bệnh viện ĐH Y Dược TP.HCM cho biết đang điều trị cho anh Trấn (28 tuổi, ở Đắk Lắk). Trước đó, bệnh nhân nhập viện trong tình trạng phù, mệt mỏi, mụn nổi khắp người.
Sau khi làm các xét nghiệm máu, nước tiểu và chụp X-quang, bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân bị suy tuyến thượng thận mạn tính, loãng xương, hoại tử chỏm xương đùi khớp háng.
Bệnh nhân chia sẻ trước đó anh bị ngứa da đầu và tiêm 10-12 mũi corticoid do nghe người quen mách bảo.
PGS TS BS. Bùi Hồng Thiên Khanh, Trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình, cho biết người bệnh bị hoại tử chỏm xương đùi hai bên do dùng corticoid liều cao, chân bên trái nặng hơn chân phải. Đây là một biến chứng rất đặc biệt, đôi khi chụp X-quang rất khó phát hiện, cần phải khảo sát sâu hơn bằng chụp MRI khớp háng. Bác sĩ đã quyết định thay khớp háng bên trái toàn phần, phần chân bên phải do nhẹ hơn nên để bảo tồn, bác sĩ sẽ cấy sụn khớp vào phần bị hư. Theo TS.BS Trần Quang Nam, Trưởng khoa Nội tổng hợp, bệnh nhân bị suy tuyến thượng thận và hoại tử khớp háng là do tiêm thuốc corticoid không phù hợp. Để phục hồi bình thường, anh Trấn phải thay khớp.
Theo các bác sĩ chuyên khoa thận nội tiết, suy tuyến thượng thận khiến bệnh nhân mệt mỏi, sụt cân, chán ăn, nôn nặng, tụt huyết áp. Người mắc sẽ phải sống chung với bệnh này suốt đời vì không thể chữa khỏi. Nếu không điều trị kịp thời, người bệnh có nguy cơ tử vong.
Theo:Zing

Chuyên gia lưu ý tập luyện mùa đông để không gặp bác sĩ

Chia sẻ với phóng viên  về an toàn khi tập luyện vào mùa đông, ThS. BS Văn Phú cho biết: Nếu đã có thói quen tập luyện vào sáng sớm hay chiều muộn, là lúc thời tiết tương đối lạnh, có mưa phùn, gió mạnh... sẽ làm cho tỉ lệ chấn thương và các vấn đề đáng ngại cho sức khỏe như hô hấp, tim mạch, cơ xương khớp... tăng lên.
Đó là bởi điều kiện tự nhiên thay đổi nên sinh lý của con người cũng thay đổi theo. Vậy nên để phòng tránh các bệnh này khi trời lạnh, BS Phú lưu ý:
Với người chưa tập luyện thường xuyên, cần chọn thời điểm 8-12 tuần (trước khi có sự thay đổi thời tiết) để bắt đầu luyện tập. Tức là nếu tháng 11-12 bắt đầu lạnh thì người mới tập cần khởi động chương trình tập luyện từ tháng 7-8.
Với những người có thói quen tập 4h sáng, cần lưu ý 3 yếu tố là khối lượng vận động, thời gian vận động và tần số tập luyện (bao nhiêu lượt trong 1 phút, trong 1 giờ)... Trong đó, cần giảm 2 trong 3 yếu tố trên để đảm bảo sức khỏe.
Về vấn đề vệ sinh luyện tập, BS Phú cho biết: “Quần áo có độ phản chiếu (để dễ quan sát), các khớp cần được che chắn…. phải được hướng dẫn cụ thể với từng loại bệnh, mức độ tham gia thể thao thường xuyên”.
Liên quan đến tranh cãi tập trong nhà hay ngoài trời, BS Phú cho rằng nếu chưa chuẩn bị tốt về thời gian, trang phục hoặc có sự thay đổi đột ngột về thời tiết… thì nên tập trong nhà.
Còn với những người tập luyện chuyên nghiệp, sự trở ngại thời tiết đôi khi tạo hứng thú.
Tri ân 250.000 bệnh nhân
Trong 10 năm qua, bệnh viện Thể thao Việt Nam đã đón tiếp 250.000 lượt bệnh nhân, trong đó có nhiều người là các vận động viên nổi tiếng như Thạch Bảo Khanh, Nguyễn Thị Lụa, Hoàng Xuân Vinh…
Chia sẻ tại buổi lễ tri ân, TS. BS Võ Tường Kha, Bí thư đảng ủy, Giám đốc bệnh viện, cho biết: “Có ngưởi bệnh, thầy thuốc mới tồn tại, mới có công việc, mới được học hành, nâng cao kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ khoa học KCB và mới được trao dồi y đức, giao tiếp ứng xử đa dạng trong xã hội”.
Theo đó, bệnh viện đã tổ chức khám chữa bệnh miễn phí cho hơn 200 người dân, đối tác đồng thời tặng quà cho tất cả các bệnh nhân đang điều trị tại viện trong sáng 27/11.
Trần Phương/Báo dân trí

Cảnh báo: Thời tiết rét đậm khiến nhiều người bị méo miệng, liệt mặt

Thời gian gần đây, trung bình mỗi ngày Bệnh viện Châm cứu Trung ương có 20-30 người đến khám, điều trị méo miệng do bị liệt dây thần kinh số 7 , trong khi mùa hè mỗi ngày chí có một vài ca đến khám do dùng điều hòa hoặc quạt.
Ths.BS Dương Văn Tâm - Trưởng khoa Liệt vận động và Ngôn ngữ trẻ em (Bệnh viện Châm cứu Trung ương) cho hay, do thời tiết lạnh trong vòng hơn 1 tuần qua, số bệnh nhân đến khám và nhập viện do bị liệt mặt gia tăng .Bình quân tại bệnh viện mỗi ngày có khoảng 20-30 bệnh nhân đến khám và điều trị méo mồm, liệt mặt.
Về cơ chế gây nên bệnh này, theo ThS Dương Văn Tâm là do lạnh, lạnh đột ngột làm tổn thương gây phù nề chèn ép dây thần kinh khi chạy trong xương đá, gây mất dẫn truyền giữa thần kinh trung ương ra ngoài, từ đó gây liệt. Khi đó, người bệnh rơi vào tình trạng mắt nhắm mắt mở trừng trừng, nhắm không kín, miệng kéo lệch về phía bên lành, rãnh mũi má bên liệt mờ hoặc mất. Bệnh nhân không thể huýt sáo hay thổi lửa như bình thường. Khi ăn, thức ăn đọng ở má bị liệt. Các nếp nhăn ở trán bị xoá mờ hoặc mất hẳn. Ngoài ra, một số người còn có các dấu hiệu đau buốt nửa đầu.

Tại khoa Điều trị liệt vận động và ngôn ngữ trẻ em, bé Hoàng Thị Ngọc Lan (14 tháng tuổi, quê ở Hải Dương) là một trong những bệnh nhân đang điều trị chứng méo mặt. Chị Vũ Thị Cảnh (mẹ cháu Lan) cho biết, hai tháng trước, buổi tối sau khi tắm, chị thấy hai tay và chân của con lạnh nhưng không để ý.
Sáng hôm sau, khi bé Lan bị ngã và khóc, chị mới phát hiện mặt con gái mình bị méo lệch một bên, một bên mắt nhắm, một bên mở. Lúc này, bé Lan cũng bị sốt nên được đưa tới bệnh viện gần nhà để khám. Tuy nhiên, bác sĩ không để ý tới biểu hiện méo mặt, chỉ hạ sốt. Sau 3 ngày, bé Lan hết sốt nhưng miệng vẫn bị méo. Sau gần một tháng tự chữa bằng cách đắp các loại lá dân gian, tình trạng bé Lan vẫn không cải thiện. Lúc này, chị Cảnh mới đưa con tới Bệnh viện Châm cứu Trung ương để điều trị. Hiện tại tình trạng méo mặt của bệnh nhi này đang tiến triển tích cực, có thể ra viện trong thời gian tới.
Là bác sĩ trực tiếp điều trị cho bệnh nhi Lan, ThS Dương Văn Tâm cho biết đây chỉ là một trong rất nhiều bệnh nhân bị liệt dây thần kinh số 7 ngoại biên do lạnh đã và đang điều trị tại viện.
Ths.BS Nguyễn Ngọc Cảnh, Trưởng khoa Cấp cứu (Bệnh viện Châm cứu Trung ương) bổ sung thêm thông tin: Chúng tôi vừa tiếp nhận một trường hợp bệnh nhi mới 9 tuổi đã bị liệt dây thần kinh số 7 trung ương. Điều đặc biệt là trường hợp này ngoài méo mồm còn bị liệt cả nửa người. Đối với trường hợp liệt dây thần kinh số 7 trung ương như bệnh nhi này việc điều trị khó khăn hơn nhiều so với các trường hợp liệt dây thần kinh số 7 ngoại biên.
Tránh gió lạnh đột ngột
Khi phát hiện có tình trạng méo mồm, liệt mặt, người bệnh nên đi khám, không tự chữa bằng các phương pháp dân gian như dán đuôi lươn, chân ngóe lên mặt hay chữa theo các thầy lang. Nhiều trường hợp, bệnh không nguy hiểm nhưng lại phải nhập viện vì những tác hại của việc chữa bệnh theo lang băm.
BS Cảnh cũng lưu ý, những ngày này buổi sáng sớm Hà Nội rất lạnh buốt. Trong khi đó, nhiều người có thói quen khi đưa con đi học cho con ngồi trước xe máy sẽ rất không tốt cho trẻ do gió lạnh tốc thẳng vào mặt trẻ.
Phải đi học từ sáng sớm, hãy mặc ấm cho trẻ, đội mũ, đeo khẩu trang và ngồi đằng sau an toàn.
Còn với người nhà, tuyệt đối không đi tập thể dục từ 5 - 6 giờ sáng bởi đây là thời điểm sương lạnh. Trước khi đi ngủ nên đặt một áo khoác ngay dưới cuối giường, khi đêm, sáng dậy đi vệ sinh cần mặc ấm và nhớ lưu ý đóng kỹ cửa khi ngủ, không để cửa có khe hút gió lạnh.
Hoàng Anh

Sử dụng corticoid dạng hít điều trị hen phế quản ở trẻ em: Đề phòng tác dụng phụ của thuốc

Trẻ mắc hen dễ bị nhầm hoặc bỏ sót
Bệnh hen là một bệnh viêm mạn tính của đường thở. Tình trạng viêm làm cho đường thở rất nhạy cảm với các chất kích thích khác nhau. Khi tiếp xúc với các chất kích thích, đường thở (chủ yếu là phế quản) sẽ phù nề, co thắt, chứa đầy chất nhầy nên bị tắc nghẽn khiến cho bệnh nhân có cơn ho, khò khè, khó thở. Thế nhưng, trên thực tế, việc chẩn đoán hen ở trẻ em thường bị chậm trễ, nhất là ở trẻ dưới 2 tuổi. Điều này tất yếu đã hạn chế hiệu quả điều trị: Trẻ thường xuyên bị lên cơn, phải nhập viện, thậm chí có thể tử vong.
Để biết được trẻ mắc bệnh hen, chẩn đoán thường dễ dàng khi trẻ đang lên cơn với các triệu chứng như ho, có cảm giác nặng ngực, thở khò khè, khó thở (thở nhanh, thở co kéo lồng ngực, co kéo cơ vùng cổ, cánh mũi phập phồng…). Tuy nhiên, không phải lúc nào việc chẩn đoán cũng dễ dàng.
Cần nghi ngờ trẻ mắc bệnh hen khi trẻ bị ho tái đi tái lại nhiều lần (đặc biệt là ho về đêm), khò khè, khó thở xuất hiện hay nặng hơn khi trẻ tiếp xúc với các yếu tố khởi phát (khi thay đổi thời tiết, khi trẻ gắng sức hay khi ăn “trúng” một thức ăn nào đó...). Nếu như khò khè, khó thở là những gợi ý khá điển hình thì triệu chứng ho tái đi tái lại là triệu chứng khá đặc biệt và thường bị bỏ sót. Thật vậy, có khi trẻ mắc bệnh hen chỉ biểu hiện bằng những cơn ho về đêm (lắm khi nhiều đến mức làm trẻ không thể ngủ được) mà không hề có triệu chứng gợi ý nào khác và ban ngày trẻ lại hoàn toàn bình thường. Một số nhà chuyên môn thường gọi đây là “hen dạng ho” - một thể khá đặc biệt của bệnh và thường bị bỏ sót.
Ở trẻ dưới 2 tuổi, cần nghĩ đến hen khi trẻ bị khò khè tái phát ít nhất 3 lần ngay cả khi trong gia đình không có ai bị hen, dị ứng.
Trẻ có các dấu hiệu bệnh hen hoặc nghi ngờ mắc hen cần đưa đến khám chuyên khoa hô hấp để được chẩn đoán và điều trị phù hợp.
Corticoid dạng hít là lựa chọn hàng đầu trong điều trị kiểm soát hen phế quản ở trẻ em mọi lứa tuổi. Dạng hít qua miệng, dạng khí dung (phun sương) qua mũi thường hay được sử dụng. Phần lớn bệnh nhi mắc hen phế quản bắt đầu dùng corticoid hít khi còn nhẹ hoặc đã dùng thuốc giãn phế quản hít (salbutamol, terbutalin) không đáp ứng; hay khi tình trạng hen đã nặng, người bệnh phải lệ thuộc vào corticoid uống. Dùng corticoid hít thì sẽ giảm số lần lên cơn hen nặng hoặc không còn lên cơn hen, đồng thời giảm được liều hay ngừng hẳn thuốc giãn phế quản hít, corticoid uống trước đó.
Lợi ích của việc điều trị bằng corticoid dạng hítViệc dùng thuốc dạng phun - hít giúp ngăn ngừa cơ bản việc xuất hiện các tác dụng phụ của thuốc. Hiệu quả ngăn ngừa tác dụng phụ của thuốc là do thuốc được đưa trực tiếp tới niêm mạc đường thở, do vậy sẽ có nồng độ cao nhất ở niêm mạc đường hô hấp, trong khi nồng độ thuốc vào máu rất thấp. Nếu dùng ở dạng uống hoặc truyền tĩnh mạch thì liều dùng khá cao, thuốc vào máu rồi mới đến niêm mạc đường thở. Trong khi corticoid dạng uống đi vào máu và tác động lên toàn bộ cơ thể thì corticoid dạng hít tác động trực tiếp lên phổi (khoảng 10-50%), phần còn lại được nuốt vào dạ dày và bất hoạt ở gan, gây ra ít tác dụng phụ hơn. Nhiều nghiên cứu cho thấy, tổng liều corticoid dạng hít dùng cho điều trị dự phòng trong 1 năm ít hơn nhiều (tối đa là bằng 1/4) so với tổng liều thuốc điều trị một đợt hen cấp (10 ngày). Đó là chưa kể 1 năm trẻ có thể bị nhiều đợt hen cấp.
Corticoid dạng hít dùng kéo dài, đặc biệt là với liều thấp nói chung là an toàn. Khi dùng với liều thấp và vừa, các thuốc này có thể ảnh hưởng nhẹ đến quá trình tăng trưởng, làm giảm 1cm chiều cao của trẻ trong năm đầu điều trị. Tuy nhiên, sau đó chiều cao không bị ảnh hưởng nữa. Trẻ điều trị bằng thuốc corticoid dạng hít cần được theo dõi chiều cao đều đặn.
Các tác dụng phụ hay gặp nhất khi dùng corticoid dạng hít kéo dài: Lợi ích và nguy cơ tiềm tàng khi dùng corticoid dạng hít trong điều trị hen phế quản là cân bằng. Tuy nhiên, cần đề phòng các tác dụng phụ khi sử dụng loại thuốc này cho trẻ em có thể xảy ra.
Nấm miệng hoặc tưa miệng: Dùng dạng hít lâu dài có thể gây bội nhiễm nấm Candida (ở mũi, miệng).
Không làm dây corticoid hít vào mắt vì sẽ làm tăng nhãn áp, đục thủy tinh thể.
Ngoài ra, thuốc có thể gây đau đầu, viêm họng, khản giọng, kích ứng mũi, hắt hơi, ho, buồn nôn, nôn, chảy máu cam, phát ban da, ngứa, sưng mặt, sốc phản vệ nhưng ít gặp.

Biện pháp ngăn ngừa tác dụng phụ của corticoid dạng hít

Súc miệng sau dùng corticoid dạng phun - hít: Việc súc miệng sau hít thuốc giúp loại bỏ gần như hoàn toàn các thuốc thừa đọng lại ở miệng, họng bệnh nhân sau dùng thuốc. Cách làm: Sau khi dùng các thuốc có corticoid dạng xịt, hít, người bệnh ngậm nước sạch, sau đó ngửa cổ, nhẹ nhàng súc miệng, họng rồi nhổ bỏ phần nước này. Làm 2 lần là đủ giúp loại trừ corticoid thừa.
Tiêm vắc-xin phòng cúm: Nên được tiến hành hàng năm, giúp tránh nhiễm cúm và do đó làm giảm đáng kể tần suất cơn hen phế quản.
Dạng thuốc corticoid hít dùng kéo dài kèm theo corticoid uống cũng có thể bị ngộ độc toàn thân, lúc đầu cường vỏ thượng thận, sau đó ngừng thuốc đột ngột sẽ suy thượng thận cấp. Phải thận trọng khi phối hợp với corticoid uống (chỉ phối hợp với corticoid uống liều vừa đủ, đợt ngắn).
DS. Nguyễn Thanh Hoài/SK&ĐS

Ứng dụng xạ trị proton và hạt nặng trong điều trị ung thư

Hội thảo nhằm mục tiêu nâng cao năng lực cho các bác sĩ, kỹ sư vật lý và kỹ thuật viên tại các bệnh viện và trung tâm ung bướu. Hội thảo cũng chia sẻ kinh nghiệm trong việc thành lập trung tâm xạ trị proton và hạt nặng với sự tham gia của hơn 300 đại biểu, chuyên gia trong nước, các chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực xạ trị đến từ Nhật Bản và Hoa Kỳ.
PGS.TS Trần Văn Thuấn, Giám đốc Bệnh viện K cho biết, trong các phương pháp xạ trị, phương pháp chữa trị xạ trị proton và hạt nặng trong điều trị ung thư là phương pháp tiến tiến và hiện đại đã phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.Hội thảo bàn luận các nội dung: Tình hình xạ trị tại Việt Nam và Bệnh viện K; Các nguyên lý xạ trị proton và hạt nặng trong điều trị ung thư; Xạ trị bằng proton trong điều trị ung thư tại Hoa Kỳ; Xạ trị hạt nặng trong điều trị ung thư tại Nhật Bản; Xạ trị proton trong điều trị ung thư tại Nhật Bản và hệ thống kết hợp proton hạt nặng (hybrid); Xạ trị proton trong điều trị ung thư phổi và ung thư dạ dày
Theo các chuyên gia y tế, chữa trị xạ trị bằng ion nặng sẽ xử lý những khối u kháng với các phương pháp xạ trị Cobalt, gia tốc. Phương pháp này áp dụng rất hiệu quả cho điều trị ung thư đầu cổ, tiền liệt tuyến, nhi khoa và ít tác dụng phụ.
Với việc ứng dụng phương pháp này, tỷ lệ bệnh nhân điều trị bằng ion nặng có kích thước khối u giảm hoặc không tăng lên sau ba năm rất khả quan, đạt hơn 90% với ung thư phổi không tế bào nhỏ; 80-90% ung thư gan; gần 100% ung thư tiền liệt tuyến. Tỷ lệ sống thêm sau ba năm của ung thư phổi giai đoạn một và hai là 86%; ung thư gan là 72%. Tỷ lệ sống thêm sau hai năm của ung thư tụy là 36%; sống thêm trung bình sau năm năm của ung thư tiền liệt tuyến là 99%; ung thư trực tràng là 53%; ung thư đầu cổ là 74%.
Theo số liệu của Ghi nhận ung thư toàn cầu (GLOBOCAL) và ước tính của ghi nhận ung thư Việt Nam, mỗi năm Việt Nam có hơn 126 nghìn ca mắc mới và khoảng 94 nghìn người tử vong vì ung thư.
Hội thảo là diễn đàn quan trọng để các chuyên gia về lĩnh vực xạ trị trong ung thư cùng bàn luận, đưa ra một tầm nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về việc ứng dụng xạ trị proton và hạt nặng tại bệnh viện Việt Nam.
Theo:Laodongthudo.vn