Category 6

kenhyte

Bộ Y tế 2018: Hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí sốc phản vệ


Bộ Y tế vừa ban hành Thông tư số 51/2017/TT-BYT Hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ. Thông tư nói rõ, Adrenalin là thuốc thiết yếu, quan trọng hàng đầu, sẵn có để sử dụng cấp cứu phản vệ.
 Tài liệu dowload

Theo đó, Thông tư này hướng dẫn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ, và được áp dụng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Sốc phản vệ là mức độ nặng nhất của phản vệ do đột ngột giãn toàn bộ hệ thống mạch và co thắt phế quản có thể gây tử vong trong vòng 1 vài phút.

Thông tư quy định rõ, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bác sĩ, nhân viên y tế phải đảm bảo các nguyên tắc dự phòng phản vệ: Chỉ định đường dùng thuốc phù hợp nhất, chỉ tiêm khi không sử dụng được đường dùng khác.


Không phải thử phản ứng cho tất cả thuốc trừ trường hợp có chỉ định của bác sĩ.

Không được kê đơn thuốc, chỉ định dùng thuốc hoặc dị nguyên đã biết rõ gây phản vệ cho người bệnh. Trường hợp không có thuốc thay thế phù hợp mà cần dùng thuốc hoặc dị nguyên đã gây phản vệ cho người bệnh phải hội chẩn chuyên khoa dị ứng – miễn dịch lâm sàng hoặc do bác sĩ đã được tập huấn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ để thống nhất chỉ định và phải được sự đồng ý bằng văn bản của người bệnh hoặc đại diện hợp pháp của người bệnh.

Việc thử phản ứng trên người bệnh với thuốc hoặc dị nguyên đã từng gây dị ứng cho người bệnh phải được tiến hành tại chuyên khoa dị ứng – miễn dịch lâm sàng hoặc do các bác sĩ đã được tập huấn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ thực hiện.

Tất cả các trường hợp phản vệ phải được báo cáo về Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc hoặc Trung tâm Khu vực TP.HCM về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc theo quy định hiện hành….

Theo Thông tư, Adrenalin là thuốc thiết yếu, quan trọng hàng đầu, sẵn có để sử dụng cấp cứu phản vệ. Bác sĩ, nhân viên y tế phải nắm vững kiến thức và thực hành được cấp cứu phản vệ theo phác đồ…

Theo: D. Hải (Sức khỏe và Đời sống)

Sử dụng thuốc như thế nào là đúng cách?

Việc sử dụng thuốc đúng cách sẽ phát huy hết tác dụng của thuốc từ đó đẩy nhanh quá trình chữa lành bệnh, ngược lại nếu dùng sai cách sẽ giảm hiệu quả điều trị và nguy hiểm hơn là có thể gây hại cho bản thân. Sau đây là những chỉ dẫn về việc dùng thuốc như thế nào là đúng cách mà bạn nên lưu lại.
Dùng thuốc đúng cách để phát huy tác dụng của thuốc

Đối với dạng bào chế

Nếu là thuốc viên nén, cần uống thuốc nguyên viên với nước đun sôi để nguội. Tuy nhiên, với thuốc kháng acid dùng trong điều trị viêm loét dạ dày thì lại phải nhai trước khi uống.
Đối với dạng viên nén sủi bọt thì cần hòa tan thuốc hoàn toàn trong nước (pha đúng lượng nước trong tờ hướng dẫn sử dụng hoặc hướng dẫn của bác sĩ, dược sĩ), và uống hết.
Dạng thuốc bao tan ở ruột, thường được bào chế dạng viên nén bao phim (do được bọc một lớp phim mỏng) nên thuốc không bị tan khi đến dạ dày. Lớp phim này sẽ tan rã và thuốc được phóng thích khi đến ruột. Nhờ bao phim, thuốc không bị dịch vị ở dạ dày phân hủy, và do đó không gây tổn hại niêm mạc dạ dày. Vì vậy cần phải nuốt nguyên viên thuốc.
Một số dạng bào chế đặc biệt, thường là thuốc trị đau thắt ngực thì có hướng dẫn là ngậm, hoặc đặt dưới lưỡi, cho thuốc tan từ từ.
Đối với thuốc viên nén nhưng để dùng ngoài (như thuốc đặt âm đạo), cần nhúng ướt viên thuốc trước khi dùng để tránh trầy xước niêm mạc âm đạo.
Đặc biệt, với dạng thuốc có tác dụng chậm (hay thuốc có tác dụng kéo dài), là dạng thuốc phóng thích hoạt chất liên tục, từ từ, với tốc độ được kiểm soát trong thời gian dài (thường là 12 giờ)… Do dạng thuốc này thường chứa liều cao hơn dạng thuốc thông thường, nên lưu ý khi dùng phải đúng số viên, số lần và thời gian uống thuốc trong ngày theo chỉ định của thầy thuốc, nếu không có thể bị nguy hiểm do quá liều. Dạng thuốc này cần phải nuốt nguyên viên.

Cách dùng nước để uống thuốc

Một số bệnh nhân dùng ít nước hoặc thậm chí là không dùng nước để uống thuốc mà nuốt khan viên thuốc. Với cách này, thuốc có thể bị vướng, mắc ở thực quản gây tổn thương thực quản. Mặt khác, do không có đủ nước để làm tan thuốc, một số loại thuốc sẽ kết thành sỏi trong cơ thể.
Do vậy, khi uống thuốc cần lưu ý là phải uống với khoảng 100-150 ml nước để làm hạn chế tác hại này của thuốc. Không nên dùng với các loại nước khác như sữa, nước hoa quả, trà, côca, cà phê, rượu… đều có tương tác với thuốc, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, thậm chí gây hại.

Uống thuốc thế nào là đúng?

Một số bệnh nhân uống thuốc ở tư thế nằm hoặc uống thuốc xong lại đi nằm ngay. Đây cũng là một cách uống thuốc không đúng. Khi anh/chị uống thuốc ở tư thế này, thuốc chưa kịp trôi xuống dạ dày, rất dễ bị dính vào vách thực quản, không những giảm hiệu quả điều trị mà còn gây kích ứng thực quản, dẫn đến ho, viêm, thậm chí tổn thương thực quản. Bởi vậy, nên ngồi hoặc đứng khi uống thuốc, sau đó khoảng 10-15 phút mới nên đi nằm.
Quan niệm rằng nghiền thuốc ra để uống cho dễ và thuốc nhanh có tác dụng hơn là một sai lầm. Mỗi dạng bào chế thuốc đều nhằm mục đích điều trị riêng nên cần tuân thủ cách đưa thuốc vào cơ thể theo đúng hướng dẫn. Chẳng hạn như với thuốc dạng tác dụng chậm, phóng thích dần vào cơ thể, nếu anh/chị nghiền nhỏ ra, thuốc sẽ cho tác dụng cấp tập một lần, gây nguy hiểm.
Đối với trẻ nhỏ, nếu không nuốt được cả viên, anh/chị nên trao đổi với bác sĩ về điều này để được đổi dạng thuốc hoặc được hướng dẫn xem loại thuốc đó có thể nghiền nhỏ hay không.
Đối với dạng thuốc nước không được uống thuốc thẳng từ chai, lọ thuốc. Cách uống thuốc này sẽ không kiểm soát được chính xác liều lượng của thuốc mà còn làm thuốc bị nhiễm bẩn, biến chất. Cần dùng dụng cụ đo lường đi kèm theo chai, lọ thuốc đó để đong thuốc.

Thời điểm uống thuốc

Thời điểm uống thuốc là rất quan trọng. Thuốc có thể được uống vào trước ăn (lúc bụng rỗng), sau ăn (lúc bụng no) hoặc trong khi ăn. Khi đi khám bệnh được kê đơn thuốc, bác sĩ thường căn dặn bệnh nhân điều này, bệnh nhân cần tuân thủ để thuốc phát huy tối đa hiệu quả của thuốc.
Trường hợp là thuốc không kê đơn, người bệnh cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng xem thời điểm uống thuốc đó vào lúc nào. Nếu trong hướng dẫn không có lưu ý về thời điểm uống, thuốc đó uống vào thời điểm nào cũng được.
Không nên uống bù: Nhiều bệnh nhân tới giờ uống thuốc nhưng lại quên không uống. Đến lần uống sau uống bù hai liều cộng lại.  Điều này sẽ gây hại làm cho nồng độ thuốc trong máu tại thời điểm uống thuốc tăng cao, có thể gây nguy hiểm.
Với bệnh nhân phải dùng nhiều loại thuốc, đặc biệt là ở người cao tuổi, mắc nhiều bệnh, để tránh quên thuốc, họ thường uống thuốc cùng một lúc rất dễ gây ra các tương tác bất lợi. Vì vậy, cần hỏi kỹ bác sĩ về thời điểm dùng các loại thuốc và bệnh nhân cần tuân thủ.
Khi mới uống thuốc xong không nên vận động ngay. Bởi sau khi thuốc vào đến dạ dày, phải mất 30-60 phút thì thuốc mới phát huy tác dụng. Quá trình này cần có đủ lượng máu tham gia tuần hoàn. Việc vận động ngay sau khi dùng thuốc thì tuần hoàn sẽ phải tăng cường lượng máu đến hệ vận động, làm giảm lượng máu đến các cơ quan nội tạng và làm giảm hiệu quả hấp thu thuốc.
Nguồn:Nguoibenh.com

Suy thượng thận, hoại tử khớp vì chữa ngứa da đầu sai cách

Bệnh viện ĐH Y Dược TP.HCM cho biết đang điều trị cho anh Trấn (28 tuổi, ở Đắk Lắk). Trước đó, bệnh nhân nhập viện trong tình trạng phù, mệt mỏi, mụn nổi khắp người.
Sau khi làm các xét nghiệm máu, nước tiểu và chụp X-quang, bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân bị suy tuyến thượng thận mạn tính, loãng xương, hoại tử chỏm xương đùi khớp háng.
Bệnh nhân chia sẻ trước đó anh bị ngứa da đầu và tiêm 10-12 mũi corticoid do nghe người quen mách bảo.
PGS TS BS. Bùi Hồng Thiên Khanh, Trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình, cho biết người bệnh bị hoại tử chỏm xương đùi hai bên do dùng corticoid liều cao, chân bên trái nặng hơn chân phải. Đây là một biến chứng rất đặc biệt, đôi khi chụp X-quang rất khó phát hiện, cần phải khảo sát sâu hơn bằng chụp MRI khớp háng. Bác sĩ đã quyết định thay khớp háng bên trái toàn phần, phần chân bên phải do nhẹ hơn nên để bảo tồn, bác sĩ sẽ cấy sụn khớp vào phần bị hư. Theo TS.BS Trần Quang Nam, Trưởng khoa Nội tổng hợp, bệnh nhân bị suy tuyến thượng thận và hoại tử khớp háng là do tiêm thuốc corticoid không phù hợp. Để phục hồi bình thường, anh Trấn phải thay khớp.
Theo các bác sĩ chuyên khoa thận nội tiết, suy tuyến thượng thận khiến bệnh nhân mệt mỏi, sụt cân, chán ăn, nôn nặng, tụt huyết áp. Người mắc sẽ phải sống chung với bệnh này suốt đời vì không thể chữa khỏi. Nếu không điều trị kịp thời, người bệnh có nguy cơ tử vong.
Theo:Zing

Sử dụng corticoid dạng hít điều trị hen phế quản ở trẻ em: Đề phòng tác dụng phụ của thuốc

Trẻ mắc hen dễ bị nhầm hoặc bỏ sót
Bệnh hen là một bệnh viêm mạn tính của đường thở. Tình trạng viêm làm cho đường thở rất nhạy cảm với các chất kích thích khác nhau. Khi tiếp xúc với các chất kích thích, đường thở (chủ yếu là phế quản) sẽ phù nề, co thắt, chứa đầy chất nhầy nên bị tắc nghẽn khiến cho bệnh nhân có cơn ho, khò khè, khó thở. Thế nhưng, trên thực tế, việc chẩn đoán hen ở trẻ em thường bị chậm trễ, nhất là ở trẻ dưới 2 tuổi. Điều này tất yếu đã hạn chế hiệu quả điều trị: Trẻ thường xuyên bị lên cơn, phải nhập viện, thậm chí có thể tử vong.
Để biết được trẻ mắc bệnh hen, chẩn đoán thường dễ dàng khi trẻ đang lên cơn với các triệu chứng như ho, có cảm giác nặng ngực, thở khò khè, khó thở (thở nhanh, thở co kéo lồng ngực, co kéo cơ vùng cổ, cánh mũi phập phồng…). Tuy nhiên, không phải lúc nào việc chẩn đoán cũng dễ dàng.
Cần nghi ngờ trẻ mắc bệnh hen khi trẻ bị ho tái đi tái lại nhiều lần (đặc biệt là ho về đêm), khò khè, khó thở xuất hiện hay nặng hơn khi trẻ tiếp xúc với các yếu tố khởi phát (khi thay đổi thời tiết, khi trẻ gắng sức hay khi ăn “trúng” một thức ăn nào đó...). Nếu như khò khè, khó thở là những gợi ý khá điển hình thì triệu chứng ho tái đi tái lại là triệu chứng khá đặc biệt và thường bị bỏ sót. Thật vậy, có khi trẻ mắc bệnh hen chỉ biểu hiện bằng những cơn ho về đêm (lắm khi nhiều đến mức làm trẻ không thể ngủ được) mà không hề có triệu chứng gợi ý nào khác và ban ngày trẻ lại hoàn toàn bình thường. Một số nhà chuyên môn thường gọi đây là “hen dạng ho” - một thể khá đặc biệt của bệnh và thường bị bỏ sót.
Ở trẻ dưới 2 tuổi, cần nghĩ đến hen khi trẻ bị khò khè tái phát ít nhất 3 lần ngay cả khi trong gia đình không có ai bị hen, dị ứng.
Trẻ có các dấu hiệu bệnh hen hoặc nghi ngờ mắc hen cần đưa đến khám chuyên khoa hô hấp để được chẩn đoán và điều trị phù hợp.
Corticoid dạng hít là lựa chọn hàng đầu trong điều trị kiểm soát hen phế quản ở trẻ em mọi lứa tuổi. Dạng hít qua miệng, dạng khí dung (phun sương) qua mũi thường hay được sử dụng. Phần lớn bệnh nhi mắc hen phế quản bắt đầu dùng corticoid hít khi còn nhẹ hoặc đã dùng thuốc giãn phế quản hít (salbutamol, terbutalin) không đáp ứng; hay khi tình trạng hen đã nặng, người bệnh phải lệ thuộc vào corticoid uống. Dùng corticoid hít thì sẽ giảm số lần lên cơn hen nặng hoặc không còn lên cơn hen, đồng thời giảm được liều hay ngừng hẳn thuốc giãn phế quản hít, corticoid uống trước đó.
Lợi ích của việc điều trị bằng corticoid dạng hítViệc dùng thuốc dạng phun - hít giúp ngăn ngừa cơ bản việc xuất hiện các tác dụng phụ của thuốc. Hiệu quả ngăn ngừa tác dụng phụ của thuốc là do thuốc được đưa trực tiếp tới niêm mạc đường thở, do vậy sẽ có nồng độ cao nhất ở niêm mạc đường hô hấp, trong khi nồng độ thuốc vào máu rất thấp. Nếu dùng ở dạng uống hoặc truyền tĩnh mạch thì liều dùng khá cao, thuốc vào máu rồi mới đến niêm mạc đường thở. Trong khi corticoid dạng uống đi vào máu và tác động lên toàn bộ cơ thể thì corticoid dạng hít tác động trực tiếp lên phổi (khoảng 10-50%), phần còn lại được nuốt vào dạ dày và bất hoạt ở gan, gây ra ít tác dụng phụ hơn. Nhiều nghiên cứu cho thấy, tổng liều corticoid dạng hít dùng cho điều trị dự phòng trong 1 năm ít hơn nhiều (tối đa là bằng 1/4) so với tổng liều thuốc điều trị một đợt hen cấp (10 ngày). Đó là chưa kể 1 năm trẻ có thể bị nhiều đợt hen cấp.
Corticoid dạng hít dùng kéo dài, đặc biệt là với liều thấp nói chung là an toàn. Khi dùng với liều thấp và vừa, các thuốc này có thể ảnh hưởng nhẹ đến quá trình tăng trưởng, làm giảm 1cm chiều cao của trẻ trong năm đầu điều trị. Tuy nhiên, sau đó chiều cao không bị ảnh hưởng nữa. Trẻ điều trị bằng thuốc corticoid dạng hít cần được theo dõi chiều cao đều đặn.
Các tác dụng phụ hay gặp nhất khi dùng corticoid dạng hít kéo dài: Lợi ích và nguy cơ tiềm tàng khi dùng corticoid dạng hít trong điều trị hen phế quản là cân bằng. Tuy nhiên, cần đề phòng các tác dụng phụ khi sử dụng loại thuốc này cho trẻ em có thể xảy ra.
Nấm miệng hoặc tưa miệng: Dùng dạng hít lâu dài có thể gây bội nhiễm nấm Candida (ở mũi, miệng).
Không làm dây corticoid hít vào mắt vì sẽ làm tăng nhãn áp, đục thủy tinh thể.
Ngoài ra, thuốc có thể gây đau đầu, viêm họng, khản giọng, kích ứng mũi, hắt hơi, ho, buồn nôn, nôn, chảy máu cam, phát ban da, ngứa, sưng mặt, sốc phản vệ nhưng ít gặp.

Biện pháp ngăn ngừa tác dụng phụ của corticoid dạng hít

Súc miệng sau dùng corticoid dạng phun - hít: Việc súc miệng sau hít thuốc giúp loại bỏ gần như hoàn toàn các thuốc thừa đọng lại ở miệng, họng bệnh nhân sau dùng thuốc. Cách làm: Sau khi dùng các thuốc có corticoid dạng xịt, hít, người bệnh ngậm nước sạch, sau đó ngửa cổ, nhẹ nhàng súc miệng, họng rồi nhổ bỏ phần nước này. Làm 2 lần là đủ giúp loại trừ corticoid thừa.
Tiêm vắc-xin phòng cúm: Nên được tiến hành hàng năm, giúp tránh nhiễm cúm và do đó làm giảm đáng kể tần suất cơn hen phế quản.
Dạng thuốc corticoid hít dùng kéo dài kèm theo corticoid uống cũng có thể bị ngộ độc toàn thân, lúc đầu cường vỏ thượng thận, sau đó ngừng thuốc đột ngột sẽ suy thượng thận cấp. Phải thận trọng khi phối hợp với corticoid uống (chỉ phối hợp với corticoid uống liều vừa đủ, đợt ngắn).
DS. Nguyễn Thanh Hoài/SK&ĐS

Hướng dẫn mới về điều trị tăng huyết áp của ACC/AHA: 130 thay thế cho 140 mmHg

“Hướng dẫn ACC/AHA/AAPA/ABC/ACPM/AGS/APHA/ASH/ASPC/NMA/PCNA năm 2017 về dự phòng, phát hiện, đánh giá và quản lý tăng huyết áp ở người trưởng thành” chính thức được công bố, bao gồm các khuyến cáo mới về định nghĩa tăng huyết áp, ngưỡng huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương để bắt đầu điều trị bằng các thuốc hạ huyết áp và mục tiêu điều trị huyết áp mới cần đạt được.

Hướng dẫn này đã được công bố tại Hội nghị Khoa học 2017 của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) và được xuất bản đồng thời trên tạp chí “American College of Cardiology” và tạp chí “Hypertension” của AHA.

Tiến sĩ Paul Whelton từ Trường Y tế Công cộng và Y học Nhiệt đới, Đại học Tulane (New Orleans, LA), chủ tịch hội đồng soạn thảo Hướng dẫn Thực hành Tăng huyết áp năm 2017, phát biểu tại một cuộc họp báo: "Mục tiêu của chúng tôi là cung cấp hướng dẫn toàn diện về chẩn đoán, dự phòng, đánh giá, điều trị và rất quan trọng là các chiến lược để cải thiện tỷ lệ kiểm soát huyết áp trong quá trình điều trị".

Whelton chỉ ra 5 nội dung chính được nhấn mạnh trong hướng dẫn mới:
• Nhấn mạnh vào việc đo huyết áp, cả độ chính xác của việc đo huyết áp và việc sử dụng kết quả trung bình được đo qua một vài lần khám, cũng như nhấn mạnh vào phương pháp đo huyết áp ngoài bệnh viện, là "một nội dung tương đối mới trong hướng dẫn về tăng huyết áp", ông lưu ý.
• Một hệ thống phân loại huyết áp mới, cập nhật từ “Báo cáo lần thứ 7 của Uỷ ban Quốc gia về Hướng dẫn dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị tăng huyết áp (JNC7)". Theo ông Whelton, "Chúng tôi cho rằng có nhiều bằng chứng ủng hộ cho một hệ thống phân loại khá mới".
• Cách tiếp cận mới trong việc đưa ra quyết định điều trị nguy cơ tim mạch nền phối hợp.
• Các mục tiêu huyết áp thấp hơn trong quá trình điều trị tăng huyết áp.
• Các chiến lược để cải thiện việc kiểm soát huyết áp trong quá trình điều trị với sự nhấn mạnh vào việc thay đổi lối sống.

Định nghĩa về huyết áp bình thường (normal blood pressure) không thay đổi so với những khuyến cáo trước đó, tuy nhiên khuyến cáo mới đã loại bỏ khái niệm “tiền tăng huyết áp” (“prehypertension”) và chia mức “tiền tăng huyết áp” theo phân loại trước đây thành hai mức: (1) “huyết áp cao” (“elevated blood pressure”) với huyết áp tâm thu có giá trị từ 120 đến 129 mmHg và huyết áp tâm trương dưới 80 mmHg, và (2)tăng huyết áp giai đoạn 1 (stage 1 hypertension) có các giá trị huyết áp tâm thu từ 130 đến 139 mmHg hoặc huyết áp tâm trương từ 80 đến 89 mmHg.

Theo Whelton, hội đồng soạn thảo khuyến cáo không thích thuật ngữ “tiền tăng huyết áp” cho những bệnh nhân ở ngưỡng này, “bởi vì chúng tôi nhận thấy những người ở giai đoạn đó đã có nguy cơ rồi - nguy cơ cơn đau tim (heart attack) cao gấp hai so với người có huyết áp bình thường - vì vậy chúng tôi nghĩ rằng tăng huyết áp giai đoạn 1 là thuật ngữ thích hợp và sẽ giúp người dân và bác sĩ nắm bắt được nguy cơ tốt hơn".

Phân loại huyết áp theo JNC7 và Hướng dẫn tăng huyết áp của ACC/AHA năm 2017
Huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương (mmHg)Theo JNC7Theo 2017 ACC/AHA
< 120 và < 80Huyết áp bình thườngHuyết áp bình thường
120 - 129 và < 80Tiền tăng huyết ápHuyết áp cao
130 - 139 hoặc 80 - 89Tiền tăng huyết ápTăng huyết áp giai đoạn 1
140 - 159 hoặc 90 - 99Tăng huyết áp giai đoạn 1Tăng huyết áp giai đoạn 2
> 160 hoặc 100Tăng huyết áp giai đoạn 2Tăng huyết áp giai đoạn 2

Whelton cũng là tác giả chủ chốt trong các nghiên cứu liên quan nhằm đánh giá tác động về mặt lý thuyết của các định nghĩa và mục tiêu điều trị trong hướng dẫn mới so với hướng dẫn JNC7 trước đó.

Nghiên cứu mà tác giả đứng đầu là tiến sĩ Paul Munter (Trường Y tế Công cộng, Đại học Birmingham, Alabama) kết luận rằng so với hướng dẫn JNC7, hướng dẫn của ACC/AHA năm 2017 “khiến làm tăng đáng kể tỉ lệ mắc tăng huyết áp, tăng tỷ lệ phần trăm người trưởng thành ở Mỹ được đề nghị sử dụng thuốc hạ huyết áp”, một tỷ lệ đáng kể người trưởng thành ở Mỹ đang sử dụng thuốc hạ huyết áp cần được điều trị giảm huyết áp tích cực hơn.

Tỷ lệ tăng huyết áp Theo khuyến cáo của JNC7 và ACC/AHA 2017
Chỉ tiêu (End Point)JNC72017 ACC/AHA
Tỷ lệ tăng huyết áp (% )31,945,6
Số lượng người tăng huyết áp (triệu)72,2103,3

Lý do tỷ lệ mắc sẽ tăng đáng kể nhưng tỷ lệ bệnh nhân cần được điều trị sẽ chỉ tăng ở mức vừa phải là do các khuyến cáo mới về điều trị tăng huyết áp giai đoạn 1 theo nguy cơ tim mạch của bệnh nhân: chỉ những người có bệnh lý tim mạch hoặc có nguy cơ bệnh tim mạch do xơ vữa mạch máu (ASCVD) ước tính từ 10% trở lên sẽ được điều trị, và còn lại sẽ được hướng dẫn về thay đổi lối sống.

Phó Chủ tịch Hội đồng soạn thảo, tiến sĩ Robert M Carey (Trường Đại học Y Virginia) cho biết: "Thay đổi lối sống là nền tảng của việc điều trị tăng huyết áp và chúng tôi hy vọng rằng hướng dẫn này sẽ làm cho xã hội và cộng đồng bác sĩ chúng tôi chú ý nhiều hơn đến các khuyến cáo về lối sống".

Các khuyến cáo cụ thể bao gồm các lời khuyên về giảm cân, tuân thủ theo chế độ ăn DASH (Dietary Approaches to Stop Hypertension), giảm lượng natri xuống dưới 1500 mg/ngày và tăng lượng kali lên 3500 mg/ngày trong chế độ ăn, tăng hoạt động thể chất đến tối thiểu 30 phút, 3 lần 1 tuần và hạn chế lượng đồ uống có cồn ít hơn 2 ly mỗi ngày với nam giới và ít hơn 1 mỗi ngày với nữ giới.

Carey cho biết họ đang khuyến nghị ACC/AHA Pooled Cohort Equations ước tính nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch do xơ vữa động mạch (Atherosclerotic Cardiovascular Disease/ASCVD) trong 10 năm của ACC/AHA tính đến cả tuổi, chủng tộc, giới tính, cholesterol toàn phần, LDL, HDL, đang điều trị bằng aspirin hoặc statin, huyết áp tâm thu, đang điều trị tăng huyết áp, tiền sử bệnh tiểu đường và hút thuốc lá.

Cuối cùng, ông chỉ ra mục tiêu mới để điều trị tăng huyết áp “thấp hơn so với hướng dẫn gần nhất”"Hướng dẫn gần nhất khuyến cáo dưới 140/90 mmHg; hướng dẫn của chúng tôi khuyến cáo mục tiêu là 130/80 mmHg”.

Whelton đã thảo luận lý do cho mục tiêu hạ huyết áp tích cực hơn ở mức dưới 130/80 mmHg với người lớn tuổi: “Phần lớn dựa trên thực tế là một số lượng lớn người lớn tuổi đã tham gia các thử nghiệm điều trị hạ huyết áp, đặc biệt là trong các thử nghiệm gần đây”.

Trong những nghiên cứu này, đáng chú ý là thử nghiệm SPRINT và ACCORD, điều trị hạ huyết áp áp làm giảm tỉ lệ mắc bệnh và tử vong do bệnh tim mạch (cardiovascular disease/CVD) mà không làm tăng nguy cơ về ngã hoặc hạ huyết áp tư thế.

Rà soát kỹ lưỡng 
Chủ trì buổi họp về hướng dẫn mới là tiến sĩ Stephen Hauser (Trường Y Lewis Katz, Đại học Temple, Philadelphia, PA), cựu Chủ tịch Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, chủ tịch đương nhiệm tiến sĩ John J Warner (Bệnh viện Đại học Y Southwestern UT, Dallas) và tiến sĩ Mary Walsh (Trung tâm Tim mạch St Vincent, Indiana, Carmel), chủ tịch đương nhiệm của Hội Tim mạch học Hoa Kỳ.

Hauser cho biết: “Chúng tôi thấy cần phải cập nhật các hướng dẫn này để phản ánh những mối đe dọa thực sự của tăng huyết áp và thiết lập một quy trình để có thể cải thiện sức khoẻ tim mạch của tất cả người dân Mỹ”.

Ông nói thêm: “Hướng dẫn này là sản phẩm được rà soát kỹ lưỡng trong 3 năm bởi một nhóm gồm 21 chuyên gia đã xem xét hơn 900 nguồn tài liệu”“Hướng dẫn tiếp tục trải qua nhiều vòng đánh giá khách quan và đã được hoàn thiện bởi nhóm chuyên gia tư vấn khoa học gồm 41 thành viên, tôi là một người trong số đó, và cũng như tất cả các tổ chức đối tác và hội đồng soạn thảo, tôi đã đọc chúng”.

Walsh cho biết: “Chúng tôi cập nhật hướng dẫn dựa trên các bằng chứng và liên tục theo dõi các nghiên cứu mới nhất”“Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ và Hội Tim mạch học Hoa Kỳ được chính phủ Hoa Kỳ giao cho trách nhiệm quản lý và đưa ra khuyến cáo điều trị tim mạch từ năm 2013. Ngay sau đó, hai tổ chức đã bắt đầu đặt nền móng cho khuyến cáo mới và phát triển nó trong 3 năm vừa qua”.

Theo bà: “Nhiều nhóm khác đã công bố các khuyến cáo về tăng huyết áp trong 4 năm vừa qua, tuy nhiên các khuyến cáo này không toàn diện và không được chứng nhận rộng rãi”“và hướng dẫn này là một sự hợp tác lớn của 11 tổ chức”.

Các tổ chức đối tác với AHA/ACC bao gồm Hội Trợ lý Bác sĩ Hoa Kỳ (American Academy of Physician Assistants/AAPA), Hội Y học Dự phòng Hoa Kỳ (American College of Preventive Medicine/ACPM), Hội Lão khoa Hoa Kỳ (American Geriatrics Society/AGS), Hiệp hội Dược sĩ Hoa Kỳ (American Pharmacists Association/APA), Hội Tăng huyết áp Hoa Kỳ (American Society of Hypertension/ASH), Hội Dự phòng Tim mạch Hoa Kỳ (American Society of Preventive Cardiology/ASPC), Hiệp hội Bác sĩ Tim mạch Da màu (Association of Black Cardiologists/ABC), Hiệp hội Y khoa Quốc gia (National Medical Association/NMA) và Hiệp hội Điều dưỡng Dự phòng Tim mạch (Preventive Cardiovascular Nurses Association/PCNA).


Người dịch: Nguyễn Đinh Hồng Phúc

Biện pháp ngừa thai bằng hormon hiện đại và nguy cơ ung thư vú

Có rất ít bằng chứng khoa học cho thấy liệu biện pháp ngừa thai bằng hormon hiện đại có liên quan tới nguy cơ ung thư vú gia tăng hay không.

Ngày hôm nay (7/12/2017), trên tạp chí y học NEJM có công bố một bài báo khoa học mà trong đó các tác giả đã công bố kết quả đánh giá mối quan hệ giữa việc sử dụng biện pháp ngừa thai bằng hormon và nguy cơ ung thư vú xâm lấn trong một nghiên cứu thuần tập theo thời gian trên toàn quốc (nationwide prospective cohort study) liên quan tới tất cả phụ nữ ở Đan Mạch từ 15 đến 49 tuổi chưa bị ung thư hoặc thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch và không điều trị vô sinh. Các cơ quan đăng ký trên toàn quốc đã cung cấp thông tin cập nhật cá nhân về việc sử dụng biện pháp ngừa thai bằng hormon, chẩn đoán ung thư vú và các yếu tố gây nhiễu tiềm ẩn.

Trong số 1,8 triệu phụ nữ được theo dõi trong vòng trung bình 10,9 năm (tổng cộng có 19,6 triệu người-năm [a total of 19.6 million person-years]), thì có tới 11517 trường hợp ung thư vú xảy ra. Khi so sánh với những phụ nữ không bao giờ sử dụng biện pháp ngừa thai bằng hormon, thì yếu tố nguy cơ tương đối ung thư vú ở tất cả những người đang sử dụng và gần đây có sử dụng biện pháp ngừa thai bằng hormon là 1,20 (95% confidence interval [CI], 1.14 to 1.26). Nguy cơ này tăng lên từ 1,09 (95% CI, 0.96 to 1.23) đối với người sử dụng dưới 1 năm đến 1,38 (95% CI, 1.26 to 1.51) đối với người sử dụng trên 10 năm (P = 0,002).

Sau khi ngừng dùng biện pháp ngừa thai bằng hormon, nguy cơ ung thư vú vẫn cao hơn ở những phụ nữ đã sử dụng các biện pháp ngừa thai bằng hormon trong ít nhất 5 năm so với những phụ nữ không sử dụng các biện pháp ngừa thai bằng hormon. Các ước lượng nguy cơ liên quan tới đang sử dụng hoặc gần đây có sử dụng các biện pháp ngừa thai kết hợp (estrogen - progestin) đường uống khác nhau thay đổi giữa 1,0 và 1,6. Những phụ nữ đang sử dụng hoặc gần đây có sử dụng dụng cụ trong tử cung phóng thích progestin (progestin-only intrauterine system) cũng có nguy cơ ung thư vú cao hơn những phụ nữ không bao giờ sử dụng các biện pháp ngừa thai bằng hormon(relative risk, 1.21; 95% CI, 1.11 to 1.33).

Toàn bộ sự gia tăng tuyệt đối ung thư vú được chẩn đoán trong số những phụ nữ đang sử dụng hoặc gần đây có sử dụng bất cứ biện pháp ngừa thai bằng hormon nào là 13 (95% CI, 10 to 16) trên 100.000 người-năm hoặc có thêm khoảng 1 phụ nữ bị ung thư vú cho mỗi 7690 phụ nữ sử dụng biện pháp ngừa thai bằng hormon trong 1 năm.

Như vậy, nguy cơ ung thư vú cao hơn ở những phụ nữ đang sử dụng hoặc gần đây có sử dụng các biện pháp ngừa thai bằng hormon hiện đại, và yếu tố nguy cơ này tăng lên khi thời gian sử dụng lâu hơn; tuy nhiên, sự gia tăng tuyệt đối nguy cơ là nhỏ.

Nguồn:Bacsinoitru.vn

Lưu ý đặc biệt giúp tăng hiệu quả thuốc kháng nấm

thậm chí nấm nội tạng như như nấm phổi, nấm đường tiêu hoá… Nhiều chất kháng nấm đã được sử dụng nhưng khi dùng thuốc, người bệnh cần đặc biệt lưu ý một số vấn đề về việc tiêu diệt nấm đạt kết quả tốt nhất.

Các loại nấm gây bệnh cho người

Aspergillus: Đã gây bệnh cho 200.000 người trên toàn cầu, đặc biệt thường gây bệnh cho phổi.
Cryptococcus: Là loại nấm độc hại nhất đối với người, hàng năm làm tử vong khoảng 1 triệu người trên toàn cầu, đặc biệt gây bệnh cho não, viêm màng não.
Candida: Đây là loại gây bệnh cho người được xếp vào loại thứ hai. Chúng đã gây nên tử vong khoảng 400.000 trường hợp mỗi năm trên toàn thế giới, chủ yếu là gây bệnh nhiễm máu.
Rhizopus: Chủ yếu gây bệnh cho màng nhầy (mucomycose) cấp tính nhưng ít gặp hơn gây bệnh xoang, não và máu.

Tuy nhiên, hiện nay, do có nhiều phương pháp điều trị bệnh làm ảnh hưởng đến miễn dịch của cơ thể, nhất là lạm dụng các thuốc ức chế miễn dịch như corticoid hoặc hoá trị liệu chống ung thư hoặc dùng các thuốc chống đào thải mảnh ghép trong các trường hợp ghép tạng (thận, da…) làm cho nấm có cơ hội sinh sôi và dễ dàng xâm nhập vào các cơ quan bên trong cơ thể. Để điều trị nấm, các nhà khoa học đã nghiên cứu và sản xuất ra các chất chống nấm. Hiện nay, đã có 4 loại thuốc kháng nấm, các loại này được nghiên cứu dựa vào cơ chế tác động của thuốc lên tế bào vi nấm.

Các loại thuốc kháng nấm phổ biến

Loại thuốc ức chế sự hình thành màng: Như các azole (fluconazol, voriconazol, itraconazol…) có tác dụng ức chế phản ứng sinh hoá học tạo ergosterol cần thiết cho màng tế bào nấm, làm tổn thương màng và từ đó sẽ tiêu hủy tế bào nấm. Nên lưu ý rằng azole có tác dụng rất hữu hiệu đối với nấm Candida và loại aspergillus.
Loại có tác dụng đục thủng màng tế bào nấm: Đó là các polyen (có khoảng 200 thuốc thuộc nhóm này như amphotericin B, amphotericin B deoxycholat…). Thuốc hoạt động bằng cách kết hợp với ergosterol ở màng tế bào và tấn công nấm. Các loại này thường dùng để điều trị ban đầu với loại bệnh nấm do Crytococcus. Tuy vậy, các kháng nấm loại này có nhược điểm là giá thành còn cao, chưa phù hợp với đại đa số người dân. Hơn nữa, thuốc độc hại với thận, vì vậy, những người đã, đang mắc bệnh về thận, nhất là suy thận không được dùng loại thuốc này.
Loại ức chế tạo acid nhân ADN và ARN: Trong loại thuốc ức chế này, các chất đồng đẳng pyrimidin 5 fluorocytosin tiêu diệt nấm bằng cách ức chế sự tạo ADN và ARN. Loại thuốc kháng nấm này kết hợp với amphotericin B đã được sử dụng  điều trị viêm não do cryptococcus có kết quả tốt do cơ chế tác dụng của hỗn hợp 2 loại thuốc đã đi vào dịch não tủy tấn công vi nấm. Nhược điểm của loại thuốc 5 fluorocytosin là có độc tính cao với người sử dụng và vi nấm có khả năng kháng lại thuốc.
Loại phá vỡ màng tế bào nấm: Các echinocandin như caspofogin, micafungin… có khả năng ức chế tổng hợp của B (1-3) D glucan (chất cần thiết cho màng tế bào nấm), từ đó gây hủy hoại tế bào nấm. Loại thuốc kháng nấm này còn có hiệu quả tốt, nhưng giá thành cao, thường được lựa chọn khi đã dùng các loại chống nấm khác không hiệu quả hoặc hiệu quả kém.

Những lưu ý cần thiết khi dùng thuốc kháng nấm

Có 4 loại thuốc kháng nấm phổ biến được phân thành hai dạng sử dụng chính là theo đường toàn thân (thuốc uống, tiêm) và bôi ngoài da (kem, thuốc mỡ…). Khi dùng thuốc kháng nấm cần lưu ý:
Sử dụng theo đơn của bác sĩ: Những loại thuốc có tác dụng toàn thân như fluconazole, itraconazole, ketoconazole, miconazole… chỉ được mua dùng khi có sự kê đơn của bác sĩ dựa trên tình trạng bệnh cụ thể.
Đặc tính riêng có của từng dạng bào chế: Dạng kem và dạng thuốc nước bôi dùng ngoài thường có hiệu quả cao trong việc trị nấm ngoài da vì chúng tiếp xúc trực tiếp với vi nấm, ngay cả những con vi nấm khôn ngoan ẩn náu trong  những vết trầy, vết thương của da. Thuốc bột có đặc tính là hút ẩm, vì vậy thường được dùng ở những vùng ẩm ướt của cơ thể, chẳng hạn như vùng da giữa các ngón chân... Do vậy, hiểu được đặc tính riêng có của từng dạng bào chế sẽ giúp người bệnh lựa chọn tốt hơn đối với các thuốc kháng nấm không cần kê đơn.
Liều lượng thuốc: Liều lượng dùng thuốc tùy thuộc vào từng loại nấm gây bệnh và những biểu hiện bệnh do nấm gây ra. Liều lượng sẽ khác nhau ở những bệnh nhân khác nhau. Vì vậy, bệnh nhân cần đi khám và tuân thủ liều dùng theo bác sĩ chỉ định, không được bỏ ngang giữa chừng. Những loại thuốc như itraconazole và ketoconazole cần phải được uống khi bụng no. Đối với thuốc bôi ngoài da thì cần một lượng vừa đủ, có thuốc chỉ cần bôi một lớp mỏng để tránh tác dụng phụ.
Chú ý tác dụng phụ: Thuốc chống nấm (trừ loại bôi) hầu hết đều có nhiều tác dụng phụ, trong đó có loại gây hậu quả xấu cho thận, được nhắc đến nhiều nhất là amphotericin B. Ngoài ra, thuốc kháng nấm còn có thể gây ra những rủi ro khác như rối loạn tiêu hóa (nôn, tiêu chảy…), nhức đầu, hạ huyết áp, giảm tiểu cầu, rối loạn chức năng gan… Vì vậy, người nghi bị nấm cần được khám chuyên khoa da liễu để xác định có mắc bệnh nấm hay không, nếu có là loại nấm gì để có phác đồ điều trị thích hợp, bệnh chóng khỏi. Người bệnh không nên tự chẩn đoán bệnh, tự mua thuốc điều trị vì làm như vậy sẽ rất nguy hiểm.
TS. Đặng Bùi Bảo Linh