Category 6

kenhyte

Bộ Y tế 2018: Hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí sốc phản vệ


Bộ Y tế vừa ban hành Thông tư số 51/2017/TT-BYT Hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ. Thông tư nói rõ, Adrenalin là thuốc thiết yếu, quan trọng hàng đầu, sẵn có để sử dụng cấp cứu phản vệ.
 Tài liệu dowload

Theo đó, Thông tư này hướng dẫn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ, và được áp dụng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Sốc phản vệ là mức độ nặng nhất của phản vệ do đột ngột giãn toàn bộ hệ thống mạch và co thắt phế quản có thể gây tử vong trong vòng 1 vài phút.

Thông tư quy định rõ, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bác sĩ, nhân viên y tế phải đảm bảo các nguyên tắc dự phòng phản vệ: Chỉ định đường dùng thuốc phù hợp nhất, chỉ tiêm khi không sử dụng được đường dùng khác.


Không phải thử phản ứng cho tất cả thuốc trừ trường hợp có chỉ định của bác sĩ.

Không được kê đơn thuốc, chỉ định dùng thuốc hoặc dị nguyên đã biết rõ gây phản vệ cho người bệnh. Trường hợp không có thuốc thay thế phù hợp mà cần dùng thuốc hoặc dị nguyên đã gây phản vệ cho người bệnh phải hội chẩn chuyên khoa dị ứng – miễn dịch lâm sàng hoặc do bác sĩ đã được tập huấn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ để thống nhất chỉ định và phải được sự đồng ý bằng văn bản của người bệnh hoặc đại diện hợp pháp của người bệnh.

Việc thử phản ứng trên người bệnh với thuốc hoặc dị nguyên đã từng gây dị ứng cho người bệnh phải được tiến hành tại chuyên khoa dị ứng – miễn dịch lâm sàng hoặc do các bác sĩ đã được tập huấn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ thực hiện.

Tất cả các trường hợp phản vệ phải được báo cáo về Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc hoặc Trung tâm Khu vực TP.HCM về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc theo quy định hiện hành….

Theo Thông tư, Adrenalin là thuốc thiết yếu, quan trọng hàng đầu, sẵn có để sử dụng cấp cứu phản vệ. Bác sĩ, nhân viên y tế phải nắm vững kiến thức và thực hành được cấp cứu phản vệ theo phác đồ…

Theo: D. Hải (Sức khỏe và Đời sống)

Sử dụng thuốc như thế nào là đúng cách?

Việc sử dụng thuốc đúng cách sẽ phát huy hết tác dụng của thuốc từ đó đẩy nhanh quá trình chữa lành bệnh, ngược lại nếu dùng sai cách sẽ giảm hiệu quả điều trị và nguy hiểm hơn là có thể gây hại cho bản thân. Sau đây là những chỉ dẫn về việc dùng thuốc như thế nào là đúng cách mà bạn nên lưu lại.
Dùng thuốc đúng cách để phát huy tác dụng của thuốc

Đối với dạng bào chế

Nếu là thuốc viên nén, cần uống thuốc nguyên viên với nước đun sôi để nguội. Tuy nhiên, với thuốc kháng acid dùng trong điều trị viêm loét dạ dày thì lại phải nhai trước khi uống.
Đối với dạng viên nén sủi bọt thì cần hòa tan thuốc hoàn toàn trong nước (pha đúng lượng nước trong tờ hướng dẫn sử dụng hoặc hướng dẫn của bác sĩ, dược sĩ), và uống hết.
Dạng thuốc bao tan ở ruột, thường được bào chế dạng viên nén bao phim (do được bọc một lớp phim mỏng) nên thuốc không bị tan khi đến dạ dày. Lớp phim này sẽ tan rã và thuốc được phóng thích khi đến ruột. Nhờ bao phim, thuốc không bị dịch vị ở dạ dày phân hủy, và do đó không gây tổn hại niêm mạc dạ dày. Vì vậy cần phải nuốt nguyên viên thuốc.
Một số dạng bào chế đặc biệt, thường là thuốc trị đau thắt ngực thì có hướng dẫn là ngậm, hoặc đặt dưới lưỡi, cho thuốc tan từ từ.
Đối với thuốc viên nén nhưng để dùng ngoài (như thuốc đặt âm đạo), cần nhúng ướt viên thuốc trước khi dùng để tránh trầy xước niêm mạc âm đạo.
Đặc biệt, với dạng thuốc có tác dụng chậm (hay thuốc có tác dụng kéo dài), là dạng thuốc phóng thích hoạt chất liên tục, từ từ, với tốc độ được kiểm soát trong thời gian dài (thường là 12 giờ)… Do dạng thuốc này thường chứa liều cao hơn dạng thuốc thông thường, nên lưu ý khi dùng phải đúng số viên, số lần và thời gian uống thuốc trong ngày theo chỉ định của thầy thuốc, nếu không có thể bị nguy hiểm do quá liều. Dạng thuốc này cần phải nuốt nguyên viên.

Cách dùng nước để uống thuốc

Một số bệnh nhân dùng ít nước hoặc thậm chí là không dùng nước để uống thuốc mà nuốt khan viên thuốc. Với cách này, thuốc có thể bị vướng, mắc ở thực quản gây tổn thương thực quản. Mặt khác, do không có đủ nước để làm tan thuốc, một số loại thuốc sẽ kết thành sỏi trong cơ thể.
Do vậy, khi uống thuốc cần lưu ý là phải uống với khoảng 100-150 ml nước để làm hạn chế tác hại này của thuốc. Không nên dùng với các loại nước khác như sữa, nước hoa quả, trà, côca, cà phê, rượu… đều có tương tác với thuốc, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, thậm chí gây hại.

Uống thuốc thế nào là đúng?

Một số bệnh nhân uống thuốc ở tư thế nằm hoặc uống thuốc xong lại đi nằm ngay. Đây cũng là một cách uống thuốc không đúng. Khi anh/chị uống thuốc ở tư thế này, thuốc chưa kịp trôi xuống dạ dày, rất dễ bị dính vào vách thực quản, không những giảm hiệu quả điều trị mà còn gây kích ứng thực quản, dẫn đến ho, viêm, thậm chí tổn thương thực quản. Bởi vậy, nên ngồi hoặc đứng khi uống thuốc, sau đó khoảng 10-15 phút mới nên đi nằm.
Quan niệm rằng nghiền thuốc ra để uống cho dễ và thuốc nhanh có tác dụng hơn là một sai lầm. Mỗi dạng bào chế thuốc đều nhằm mục đích điều trị riêng nên cần tuân thủ cách đưa thuốc vào cơ thể theo đúng hướng dẫn. Chẳng hạn như với thuốc dạng tác dụng chậm, phóng thích dần vào cơ thể, nếu anh/chị nghiền nhỏ ra, thuốc sẽ cho tác dụng cấp tập một lần, gây nguy hiểm.
Đối với trẻ nhỏ, nếu không nuốt được cả viên, anh/chị nên trao đổi với bác sĩ về điều này để được đổi dạng thuốc hoặc được hướng dẫn xem loại thuốc đó có thể nghiền nhỏ hay không.
Đối với dạng thuốc nước không được uống thuốc thẳng từ chai, lọ thuốc. Cách uống thuốc này sẽ không kiểm soát được chính xác liều lượng của thuốc mà còn làm thuốc bị nhiễm bẩn, biến chất. Cần dùng dụng cụ đo lường đi kèm theo chai, lọ thuốc đó để đong thuốc.

Thời điểm uống thuốc

Thời điểm uống thuốc là rất quan trọng. Thuốc có thể được uống vào trước ăn (lúc bụng rỗng), sau ăn (lúc bụng no) hoặc trong khi ăn. Khi đi khám bệnh được kê đơn thuốc, bác sĩ thường căn dặn bệnh nhân điều này, bệnh nhân cần tuân thủ để thuốc phát huy tối đa hiệu quả của thuốc.
Trường hợp là thuốc không kê đơn, người bệnh cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng xem thời điểm uống thuốc đó vào lúc nào. Nếu trong hướng dẫn không có lưu ý về thời điểm uống, thuốc đó uống vào thời điểm nào cũng được.
Không nên uống bù: Nhiều bệnh nhân tới giờ uống thuốc nhưng lại quên không uống. Đến lần uống sau uống bù hai liều cộng lại.  Điều này sẽ gây hại làm cho nồng độ thuốc trong máu tại thời điểm uống thuốc tăng cao, có thể gây nguy hiểm.
Với bệnh nhân phải dùng nhiều loại thuốc, đặc biệt là ở người cao tuổi, mắc nhiều bệnh, để tránh quên thuốc, họ thường uống thuốc cùng một lúc rất dễ gây ra các tương tác bất lợi. Vì vậy, cần hỏi kỹ bác sĩ về thời điểm dùng các loại thuốc và bệnh nhân cần tuân thủ.
Khi mới uống thuốc xong không nên vận động ngay. Bởi sau khi thuốc vào đến dạ dày, phải mất 30-60 phút thì thuốc mới phát huy tác dụng. Quá trình này cần có đủ lượng máu tham gia tuần hoàn. Việc vận động ngay sau khi dùng thuốc thì tuần hoàn sẽ phải tăng cường lượng máu đến hệ vận động, làm giảm lượng máu đến các cơ quan nội tạng và làm giảm hiệu quả hấp thu thuốc.
Nguồn:Nguoibenh.com

Suy thượng thận, hoại tử khớp vì chữa ngứa da đầu sai cách

Bệnh viện ĐH Y Dược TP.HCM cho biết đang điều trị cho anh Trấn (28 tuổi, ở Đắk Lắk). Trước đó, bệnh nhân nhập viện trong tình trạng phù, mệt mỏi, mụn nổi khắp người.
Sau khi làm các xét nghiệm máu, nước tiểu và chụp X-quang, bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân bị suy tuyến thượng thận mạn tính, loãng xương, hoại tử chỏm xương đùi khớp háng.
Bệnh nhân chia sẻ trước đó anh bị ngứa da đầu và tiêm 10-12 mũi corticoid do nghe người quen mách bảo.
PGS TS BS. Bùi Hồng Thiên Khanh, Trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình, cho biết người bệnh bị hoại tử chỏm xương đùi hai bên do dùng corticoid liều cao, chân bên trái nặng hơn chân phải. Đây là một biến chứng rất đặc biệt, đôi khi chụp X-quang rất khó phát hiện, cần phải khảo sát sâu hơn bằng chụp MRI khớp háng. Bác sĩ đã quyết định thay khớp háng bên trái toàn phần, phần chân bên phải do nhẹ hơn nên để bảo tồn, bác sĩ sẽ cấy sụn khớp vào phần bị hư. Theo TS.BS Trần Quang Nam, Trưởng khoa Nội tổng hợp, bệnh nhân bị suy tuyến thượng thận và hoại tử khớp háng là do tiêm thuốc corticoid không phù hợp. Để phục hồi bình thường, anh Trấn phải thay khớp.
Theo các bác sĩ chuyên khoa thận nội tiết, suy tuyến thượng thận khiến bệnh nhân mệt mỏi, sụt cân, chán ăn, nôn nặng, tụt huyết áp. Người mắc sẽ phải sống chung với bệnh này suốt đời vì không thể chữa khỏi. Nếu không điều trị kịp thời, người bệnh có nguy cơ tử vong.
Theo:Zing

Chuyên gia lưu ý tập luyện mùa đông để không gặp bác sĩ

Chia sẻ với phóng viên  về an toàn khi tập luyện vào mùa đông, ThS. BS Văn Phú cho biết: Nếu đã có thói quen tập luyện vào sáng sớm hay chiều muộn, là lúc thời tiết tương đối lạnh, có mưa phùn, gió mạnh... sẽ làm cho tỉ lệ chấn thương và các vấn đề đáng ngại cho sức khỏe như hô hấp, tim mạch, cơ xương khớp... tăng lên.
Đó là bởi điều kiện tự nhiên thay đổi nên sinh lý của con người cũng thay đổi theo. Vậy nên để phòng tránh các bệnh này khi trời lạnh, BS Phú lưu ý:
Với người chưa tập luyện thường xuyên, cần chọn thời điểm 8-12 tuần (trước khi có sự thay đổi thời tiết) để bắt đầu luyện tập. Tức là nếu tháng 11-12 bắt đầu lạnh thì người mới tập cần khởi động chương trình tập luyện từ tháng 7-8.
Với những người có thói quen tập 4h sáng, cần lưu ý 3 yếu tố là khối lượng vận động, thời gian vận động và tần số tập luyện (bao nhiêu lượt trong 1 phút, trong 1 giờ)... Trong đó, cần giảm 2 trong 3 yếu tố trên để đảm bảo sức khỏe.
Về vấn đề vệ sinh luyện tập, BS Phú cho biết: “Quần áo có độ phản chiếu (để dễ quan sát), các khớp cần được che chắn…. phải được hướng dẫn cụ thể với từng loại bệnh, mức độ tham gia thể thao thường xuyên”.
Liên quan đến tranh cãi tập trong nhà hay ngoài trời, BS Phú cho rằng nếu chưa chuẩn bị tốt về thời gian, trang phục hoặc có sự thay đổi đột ngột về thời tiết… thì nên tập trong nhà.
Còn với những người tập luyện chuyên nghiệp, sự trở ngại thời tiết đôi khi tạo hứng thú.
Tri ân 250.000 bệnh nhân
Trong 10 năm qua, bệnh viện Thể thao Việt Nam đã đón tiếp 250.000 lượt bệnh nhân, trong đó có nhiều người là các vận động viên nổi tiếng như Thạch Bảo Khanh, Nguyễn Thị Lụa, Hoàng Xuân Vinh…
Chia sẻ tại buổi lễ tri ân, TS. BS Võ Tường Kha, Bí thư đảng ủy, Giám đốc bệnh viện, cho biết: “Có ngưởi bệnh, thầy thuốc mới tồn tại, mới có công việc, mới được học hành, nâng cao kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ khoa học KCB và mới được trao dồi y đức, giao tiếp ứng xử đa dạng trong xã hội”.
Theo đó, bệnh viện đã tổ chức khám chữa bệnh miễn phí cho hơn 200 người dân, đối tác đồng thời tặng quà cho tất cả các bệnh nhân đang điều trị tại viện trong sáng 27/11.
Trần Phương/Báo dân trí

Cảnh báo: Thời tiết rét đậm khiến nhiều người bị méo miệng, liệt mặt

Thời gian gần đây, trung bình mỗi ngày Bệnh viện Châm cứu Trung ương có 20-30 người đến khám, điều trị méo miệng do bị liệt dây thần kinh số 7 , trong khi mùa hè mỗi ngày chí có một vài ca đến khám do dùng điều hòa hoặc quạt.
Ths.BS Dương Văn Tâm - Trưởng khoa Liệt vận động và Ngôn ngữ trẻ em (Bệnh viện Châm cứu Trung ương) cho hay, do thời tiết lạnh trong vòng hơn 1 tuần qua, số bệnh nhân đến khám và nhập viện do bị liệt mặt gia tăng .Bình quân tại bệnh viện mỗi ngày có khoảng 20-30 bệnh nhân đến khám và điều trị méo mồm, liệt mặt.
Về cơ chế gây nên bệnh này, theo ThS Dương Văn Tâm là do lạnh, lạnh đột ngột làm tổn thương gây phù nề chèn ép dây thần kinh khi chạy trong xương đá, gây mất dẫn truyền giữa thần kinh trung ương ra ngoài, từ đó gây liệt. Khi đó, người bệnh rơi vào tình trạng mắt nhắm mắt mở trừng trừng, nhắm không kín, miệng kéo lệch về phía bên lành, rãnh mũi má bên liệt mờ hoặc mất. Bệnh nhân không thể huýt sáo hay thổi lửa như bình thường. Khi ăn, thức ăn đọng ở má bị liệt. Các nếp nhăn ở trán bị xoá mờ hoặc mất hẳn. Ngoài ra, một số người còn có các dấu hiệu đau buốt nửa đầu.

Tại khoa Điều trị liệt vận động và ngôn ngữ trẻ em, bé Hoàng Thị Ngọc Lan (14 tháng tuổi, quê ở Hải Dương) là một trong những bệnh nhân đang điều trị chứng méo mặt. Chị Vũ Thị Cảnh (mẹ cháu Lan) cho biết, hai tháng trước, buổi tối sau khi tắm, chị thấy hai tay và chân của con lạnh nhưng không để ý.
Sáng hôm sau, khi bé Lan bị ngã và khóc, chị mới phát hiện mặt con gái mình bị méo lệch một bên, một bên mắt nhắm, một bên mở. Lúc này, bé Lan cũng bị sốt nên được đưa tới bệnh viện gần nhà để khám. Tuy nhiên, bác sĩ không để ý tới biểu hiện méo mặt, chỉ hạ sốt. Sau 3 ngày, bé Lan hết sốt nhưng miệng vẫn bị méo. Sau gần một tháng tự chữa bằng cách đắp các loại lá dân gian, tình trạng bé Lan vẫn không cải thiện. Lúc này, chị Cảnh mới đưa con tới Bệnh viện Châm cứu Trung ương để điều trị. Hiện tại tình trạng méo mặt của bệnh nhi này đang tiến triển tích cực, có thể ra viện trong thời gian tới.
Là bác sĩ trực tiếp điều trị cho bệnh nhi Lan, ThS Dương Văn Tâm cho biết đây chỉ là một trong rất nhiều bệnh nhân bị liệt dây thần kinh số 7 ngoại biên do lạnh đã và đang điều trị tại viện.
Ths.BS Nguyễn Ngọc Cảnh, Trưởng khoa Cấp cứu (Bệnh viện Châm cứu Trung ương) bổ sung thêm thông tin: Chúng tôi vừa tiếp nhận một trường hợp bệnh nhi mới 9 tuổi đã bị liệt dây thần kinh số 7 trung ương. Điều đặc biệt là trường hợp này ngoài méo mồm còn bị liệt cả nửa người. Đối với trường hợp liệt dây thần kinh số 7 trung ương như bệnh nhi này việc điều trị khó khăn hơn nhiều so với các trường hợp liệt dây thần kinh số 7 ngoại biên.
Tránh gió lạnh đột ngột
Khi phát hiện có tình trạng méo mồm, liệt mặt, người bệnh nên đi khám, không tự chữa bằng các phương pháp dân gian như dán đuôi lươn, chân ngóe lên mặt hay chữa theo các thầy lang. Nhiều trường hợp, bệnh không nguy hiểm nhưng lại phải nhập viện vì những tác hại của việc chữa bệnh theo lang băm.
BS Cảnh cũng lưu ý, những ngày này buổi sáng sớm Hà Nội rất lạnh buốt. Trong khi đó, nhiều người có thói quen khi đưa con đi học cho con ngồi trước xe máy sẽ rất không tốt cho trẻ do gió lạnh tốc thẳng vào mặt trẻ.
Phải đi học từ sáng sớm, hãy mặc ấm cho trẻ, đội mũ, đeo khẩu trang và ngồi đằng sau an toàn.
Còn với người nhà, tuyệt đối không đi tập thể dục từ 5 - 6 giờ sáng bởi đây là thời điểm sương lạnh. Trước khi đi ngủ nên đặt một áo khoác ngay dưới cuối giường, khi đêm, sáng dậy đi vệ sinh cần mặc ấm và nhớ lưu ý đóng kỹ cửa khi ngủ, không để cửa có khe hút gió lạnh.
Hoàng Anh

Sử dụng corticoid dạng hít điều trị hen phế quản ở trẻ em: Đề phòng tác dụng phụ của thuốc

Trẻ mắc hen dễ bị nhầm hoặc bỏ sót
Bệnh hen là một bệnh viêm mạn tính của đường thở. Tình trạng viêm làm cho đường thở rất nhạy cảm với các chất kích thích khác nhau. Khi tiếp xúc với các chất kích thích, đường thở (chủ yếu là phế quản) sẽ phù nề, co thắt, chứa đầy chất nhầy nên bị tắc nghẽn khiến cho bệnh nhân có cơn ho, khò khè, khó thở. Thế nhưng, trên thực tế, việc chẩn đoán hen ở trẻ em thường bị chậm trễ, nhất là ở trẻ dưới 2 tuổi. Điều này tất yếu đã hạn chế hiệu quả điều trị: Trẻ thường xuyên bị lên cơn, phải nhập viện, thậm chí có thể tử vong.
Để biết được trẻ mắc bệnh hen, chẩn đoán thường dễ dàng khi trẻ đang lên cơn với các triệu chứng như ho, có cảm giác nặng ngực, thở khò khè, khó thở (thở nhanh, thở co kéo lồng ngực, co kéo cơ vùng cổ, cánh mũi phập phồng…). Tuy nhiên, không phải lúc nào việc chẩn đoán cũng dễ dàng.
Cần nghi ngờ trẻ mắc bệnh hen khi trẻ bị ho tái đi tái lại nhiều lần (đặc biệt là ho về đêm), khò khè, khó thở xuất hiện hay nặng hơn khi trẻ tiếp xúc với các yếu tố khởi phát (khi thay đổi thời tiết, khi trẻ gắng sức hay khi ăn “trúng” một thức ăn nào đó...). Nếu như khò khè, khó thở là những gợi ý khá điển hình thì triệu chứng ho tái đi tái lại là triệu chứng khá đặc biệt và thường bị bỏ sót. Thật vậy, có khi trẻ mắc bệnh hen chỉ biểu hiện bằng những cơn ho về đêm (lắm khi nhiều đến mức làm trẻ không thể ngủ được) mà không hề có triệu chứng gợi ý nào khác và ban ngày trẻ lại hoàn toàn bình thường. Một số nhà chuyên môn thường gọi đây là “hen dạng ho” - một thể khá đặc biệt của bệnh và thường bị bỏ sót.
Ở trẻ dưới 2 tuổi, cần nghĩ đến hen khi trẻ bị khò khè tái phát ít nhất 3 lần ngay cả khi trong gia đình không có ai bị hen, dị ứng.
Trẻ có các dấu hiệu bệnh hen hoặc nghi ngờ mắc hen cần đưa đến khám chuyên khoa hô hấp để được chẩn đoán và điều trị phù hợp.
Corticoid dạng hít là lựa chọn hàng đầu trong điều trị kiểm soát hen phế quản ở trẻ em mọi lứa tuổi. Dạng hít qua miệng, dạng khí dung (phun sương) qua mũi thường hay được sử dụng. Phần lớn bệnh nhi mắc hen phế quản bắt đầu dùng corticoid hít khi còn nhẹ hoặc đã dùng thuốc giãn phế quản hít (salbutamol, terbutalin) không đáp ứng; hay khi tình trạng hen đã nặng, người bệnh phải lệ thuộc vào corticoid uống. Dùng corticoid hít thì sẽ giảm số lần lên cơn hen nặng hoặc không còn lên cơn hen, đồng thời giảm được liều hay ngừng hẳn thuốc giãn phế quản hít, corticoid uống trước đó.
Lợi ích của việc điều trị bằng corticoid dạng hítViệc dùng thuốc dạng phun - hít giúp ngăn ngừa cơ bản việc xuất hiện các tác dụng phụ của thuốc. Hiệu quả ngăn ngừa tác dụng phụ của thuốc là do thuốc được đưa trực tiếp tới niêm mạc đường thở, do vậy sẽ có nồng độ cao nhất ở niêm mạc đường hô hấp, trong khi nồng độ thuốc vào máu rất thấp. Nếu dùng ở dạng uống hoặc truyền tĩnh mạch thì liều dùng khá cao, thuốc vào máu rồi mới đến niêm mạc đường thở. Trong khi corticoid dạng uống đi vào máu và tác động lên toàn bộ cơ thể thì corticoid dạng hít tác động trực tiếp lên phổi (khoảng 10-50%), phần còn lại được nuốt vào dạ dày và bất hoạt ở gan, gây ra ít tác dụng phụ hơn. Nhiều nghiên cứu cho thấy, tổng liều corticoid dạng hít dùng cho điều trị dự phòng trong 1 năm ít hơn nhiều (tối đa là bằng 1/4) so với tổng liều thuốc điều trị một đợt hen cấp (10 ngày). Đó là chưa kể 1 năm trẻ có thể bị nhiều đợt hen cấp.
Corticoid dạng hít dùng kéo dài, đặc biệt là với liều thấp nói chung là an toàn. Khi dùng với liều thấp và vừa, các thuốc này có thể ảnh hưởng nhẹ đến quá trình tăng trưởng, làm giảm 1cm chiều cao của trẻ trong năm đầu điều trị. Tuy nhiên, sau đó chiều cao không bị ảnh hưởng nữa. Trẻ điều trị bằng thuốc corticoid dạng hít cần được theo dõi chiều cao đều đặn.
Các tác dụng phụ hay gặp nhất khi dùng corticoid dạng hít kéo dài: Lợi ích và nguy cơ tiềm tàng khi dùng corticoid dạng hít trong điều trị hen phế quản là cân bằng. Tuy nhiên, cần đề phòng các tác dụng phụ khi sử dụng loại thuốc này cho trẻ em có thể xảy ra.
Nấm miệng hoặc tưa miệng: Dùng dạng hít lâu dài có thể gây bội nhiễm nấm Candida (ở mũi, miệng).
Không làm dây corticoid hít vào mắt vì sẽ làm tăng nhãn áp, đục thủy tinh thể.
Ngoài ra, thuốc có thể gây đau đầu, viêm họng, khản giọng, kích ứng mũi, hắt hơi, ho, buồn nôn, nôn, chảy máu cam, phát ban da, ngứa, sưng mặt, sốc phản vệ nhưng ít gặp.

Biện pháp ngăn ngừa tác dụng phụ của corticoid dạng hít

Súc miệng sau dùng corticoid dạng phun - hít: Việc súc miệng sau hít thuốc giúp loại bỏ gần như hoàn toàn các thuốc thừa đọng lại ở miệng, họng bệnh nhân sau dùng thuốc. Cách làm: Sau khi dùng các thuốc có corticoid dạng xịt, hít, người bệnh ngậm nước sạch, sau đó ngửa cổ, nhẹ nhàng súc miệng, họng rồi nhổ bỏ phần nước này. Làm 2 lần là đủ giúp loại trừ corticoid thừa.
Tiêm vắc-xin phòng cúm: Nên được tiến hành hàng năm, giúp tránh nhiễm cúm và do đó làm giảm đáng kể tần suất cơn hen phế quản.
Dạng thuốc corticoid hít dùng kéo dài kèm theo corticoid uống cũng có thể bị ngộ độc toàn thân, lúc đầu cường vỏ thượng thận, sau đó ngừng thuốc đột ngột sẽ suy thượng thận cấp. Phải thận trọng khi phối hợp với corticoid uống (chỉ phối hợp với corticoid uống liều vừa đủ, đợt ngắn).
DS. Nguyễn Thanh Hoài/SK&ĐS

Ứng dụng xạ trị proton và hạt nặng trong điều trị ung thư

Hội thảo nhằm mục tiêu nâng cao năng lực cho các bác sĩ, kỹ sư vật lý và kỹ thuật viên tại các bệnh viện và trung tâm ung bướu. Hội thảo cũng chia sẻ kinh nghiệm trong việc thành lập trung tâm xạ trị proton và hạt nặng với sự tham gia của hơn 300 đại biểu, chuyên gia trong nước, các chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực xạ trị đến từ Nhật Bản và Hoa Kỳ.
PGS.TS Trần Văn Thuấn, Giám đốc Bệnh viện K cho biết, trong các phương pháp xạ trị, phương pháp chữa trị xạ trị proton và hạt nặng trong điều trị ung thư là phương pháp tiến tiến và hiện đại đã phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.Hội thảo bàn luận các nội dung: Tình hình xạ trị tại Việt Nam và Bệnh viện K; Các nguyên lý xạ trị proton và hạt nặng trong điều trị ung thư; Xạ trị bằng proton trong điều trị ung thư tại Hoa Kỳ; Xạ trị hạt nặng trong điều trị ung thư tại Nhật Bản; Xạ trị proton trong điều trị ung thư tại Nhật Bản và hệ thống kết hợp proton hạt nặng (hybrid); Xạ trị proton trong điều trị ung thư phổi và ung thư dạ dày
Theo các chuyên gia y tế, chữa trị xạ trị bằng ion nặng sẽ xử lý những khối u kháng với các phương pháp xạ trị Cobalt, gia tốc. Phương pháp này áp dụng rất hiệu quả cho điều trị ung thư đầu cổ, tiền liệt tuyến, nhi khoa và ít tác dụng phụ.
Với việc ứng dụng phương pháp này, tỷ lệ bệnh nhân điều trị bằng ion nặng có kích thước khối u giảm hoặc không tăng lên sau ba năm rất khả quan, đạt hơn 90% với ung thư phổi không tế bào nhỏ; 80-90% ung thư gan; gần 100% ung thư tiền liệt tuyến. Tỷ lệ sống thêm sau ba năm của ung thư phổi giai đoạn một và hai là 86%; ung thư gan là 72%. Tỷ lệ sống thêm sau hai năm của ung thư tụy là 36%; sống thêm trung bình sau năm năm của ung thư tiền liệt tuyến là 99%; ung thư trực tràng là 53%; ung thư đầu cổ là 74%.
Theo số liệu của Ghi nhận ung thư toàn cầu (GLOBOCAL) và ước tính của ghi nhận ung thư Việt Nam, mỗi năm Việt Nam có hơn 126 nghìn ca mắc mới và khoảng 94 nghìn người tử vong vì ung thư.
Hội thảo là diễn đàn quan trọng để các chuyên gia về lĩnh vực xạ trị trong ung thư cùng bàn luận, đưa ra một tầm nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về việc ứng dụng xạ trị proton và hạt nặng tại bệnh viện Việt Nam.
Theo:Laodongthudo.vn

Hướng dẫn mới về điều trị tăng huyết áp của ACC/AHA: 130 thay thế cho 140 mmHg

“Hướng dẫn ACC/AHA/AAPA/ABC/ACPM/AGS/APHA/ASH/ASPC/NMA/PCNA năm 2017 về dự phòng, phát hiện, đánh giá và quản lý tăng huyết áp ở người trưởng thành” chính thức được công bố, bao gồm các khuyến cáo mới về định nghĩa tăng huyết áp, ngưỡng huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương để bắt đầu điều trị bằng các thuốc hạ huyết áp và mục tiêu điều trị huyết áp mới cần đạt được.

Hướng dẫn này đã được công bố tại Hội nghị Khoa học 2017 của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) và được xuất bản đồng thời trên tạp chí “American College of Cardiology” và tạp chí “Hypertension” của AHA.

Tiến sĩ Paul Whelton từ Trường Y tế Công cộng và Y học Nhiệt đới, Đại học Tulane (New Orleans, LA), chủ tịch hội đồng soạn thảo Hướng dẫn Thực hành Tăng huyết áp năm 2017, phát biểu tại một cuộc họp báo: "Mục tiêu của chúng tôi là cung cấp hướng dẫn toàn diện về chẩn đoán, dự phòng, đánh giá, điều trị và rất quan trọng là các chiến lược để cải thiện tỷ lệ kiểm soát huyết áp trong quá trình điều trị".

Whelton chỉ ra 5 nội dung chính được nhấn mạnh trong hướng dẫn mới:
• Nhấn mạnh vào việc đo huyết áp, cả độ chính xác của việc đo huyết áp và việc sử dụng kết quả trung bình được đo qua một vài lần khám, cũng như nhấn mạnh vào phương pháp đo huyết áp ngoài bệnh viện, là "một nội dung tương đối mới trong hướng dẫn về tăng huyết áp", ông lưu ý.
• Một hệ thống phân loại huyết áp mới, cập nhật từ “Báo cáo lần thứ 7 của Uỷ ban Quốc gia về Hướng dẫn dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị tăng huyết áp (JNC7)". Theo ông Whelton, "Chúng tôi cho rằng có nhiều bằng chứng ủng hộ cho một hệ thống phân loại khá mới".
• Cách tiếp cận mới trong việc đưa ra quyết định điều trị nguy cơ tim mạch nền phối hợp.
• Các mục tiêu huyết áp thấp hơn trong quá trình điều trị tăng huyết áp.
• Các chiến lược để cải thiện việc kiểm soát huyết áp trong quá trình điều trị với sự nhấn mạnh vào việc thay đổi lối sống.

Định nghĩa về huyết áp bình thường (normal blood pressure) không thay đổi so với những khuyến cáo trước đó, tuy nhiên khuyến cáo mới đã loại bỏ khái niệm “tiền tăng huyết áp” (“prehypertension”) và chia mức “tiền tăng huyết áp” theo phân loại trước đây thành hai mức: (1) “huyết áp cao” (“elevated blood pressure”) với huyết áp tâm thu có giá trị từ 120 đến 129 mmHg và huyết áp tâm trương dưới 80 mmHg, và (2)tăng huyết áp giai đoạn 1 (stage 1 hypertension) có các giá trị huyết áp tâm thu từ 130 đến 139 mmHg hoặc huyết áp tâm trương từ 80 đến 89 mmHg.

Theo Whelton, hội đồng soạn thảo khuyến cáo không thích thuật ngữ “tiền tăng huyết áp” cho những bệnh nhân ở ngưỡng này, “bởi vì chúng tôi nhận thấy những người ở giai đoạn đó đã có nguy cơ rồi - nguy cơ cơn đau tim (heart attack) cao gấp hai so với người có huyết áp bình thường - vì vậy chúng tôi nghĩ rằng tăng huyết áp giai đoạn 1 là thuật ngữ thích hợp và sẽ giúp người dân và bác sĩ nắm bắt được nguy cơ tốt hơn".

Phân loại huyết áp theo JNC7 và Hướng dẫn tăng huyết áp của ACC/AHA năm 2017
Huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương (mmHg)Theo JNC7Theo 2017 ACC/AHA
< 120 và < 80Huyết áp bình thườngHuyết áp bình thường
120 - 129 và < 80Tiền tăng huyết ápHuyết áp cao
130 - 139 hoặc 80 - 89Tiền tăng huyết ápTăng huyết áp giai đoạn 1
140 - 159 hoặc 90 - 99Tăng huyết áp giai đoạn 1Tăng huyết áp giai đoạn 2
> 160 hoặc 100Tăng huyết áp giai đoạn 2Tăng huyết áp giai đoạn 2

Whelton cũng là tác giả chủ chốt trong các nghiên cứu liên quan nhằm đánh giá tác động về mặt lý thuyết của các định nghĩa và mục tiêu điều trị trong hướng dẫn mới so với hướng dẫn JNC7 trước đó.

Nghiên cứu mà tác giả đứng đầu là tiến sĩ Paul Munter (Trường Y tế Công cộng, Đại học Birmingham, Alabama) kết luận rằng so với hướng dẫn JNC7, hướng dẫn của ACC/AHA năm 2017 “khiến làm tăng đáng kể tỉ lệ mắc tăng huyết áp, tăng tỷ lệ phần trăm người trưởng thành ở Mỹ được đề nghị sử dụng thuốc hạ huyết áp”, một tỷ lệ đáng kể người trưởng thành ở Mỹ đang sử dụng thuốc hạ huyết áp cần được điều trị giảm huyết áp tích cực hơn.

Tỷ lệ tăng huyết áp Theo khuyến cáo của JNC7 và ACC/AHA 2017
Chỉ tiêu (End Point)JNC72017 ACC/AHA
Tỷ lệ tăng huyết áp (% )31,945,6
Số lượng người tăng huyết áp (triệu)72,2103,3

Lý do tỷ lệ mắc sẽ tăng đáng kể nhưng tỷ lệ bệnh nhân cần được điều trị sẽ chỉ tăng ở mức vừa phải là do các khuyến cáo mới về điều trị tăng huyết áp giai đoạn 1 theo nguy cơ tim mạch của bệnh nhân: chỉ những người có bệnh lý tim mạch hoặc có nguy cơ bệnh tim mạch do xơ vữa mạch máu (ASCVD) ước tính từ 10% trở lên sẽ được điều trị, và còn lại sẽ được hướng dẫn về thay đổi lối sống.

Phó Chủ tịch Hội đồng soạn thảo, tiến sĩ Robert M Carey (Trường Đại học Y Virginia) cho biết: "Thay đổi lối sống là nền tảng của việc điều trị tăng huyết áp và chúng tôi hy vọng rằng hướng dẫn này sẽ làm cho xã hội và cộng đồng bác sĩ chúng tôi chú ý nhiều hơn đến các khuyến cáo về lối sống".

Các khuyến cáo cụ thể bao gồm các lời khuyên về giảm cân, tuân thủ theo chế độ ăn DASH (Dietary Approaches to Stop Hypertension), giảm lượng natri xuống dưới 1500 mg/ngày và tăng lượng kali lên 3500 mg/ngày trong chế độ ăn, tăng hoạt động thể chất đến tối thiểu 30 phút, 3 lần 1 tuần và hạn chế lượng đồ uống có cồn ít hơn 2 ly mỗi ngày với nam giới và ít hơn 1 mỗi ngày với nữ giới.

Carey cho biết họ đang khuyến nghị ACC/AHA Pooled Cohort Equations ước tính nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch do xơ vữa động mạch (Atherosclerotic Cardiovascular Disease/ASCVD) trong 10 năm của ACC/AHA tính đến cả tuổi, chủng tộc, giới tính, cholesterol toàn phần, LDL, HDL, đang điều trị bằng aspirin hoặc statin, huyết áp tâm thu, đang điều trị tăng huyết áp, tiền sử bệnh tiểu đường và hút thuốc lá.

Cuối cùng, ông chỉ ra mục tiêu mới để điều trị tăng huyết áp “thấp hơn so với hướng dẫn gần nhất”"Hướng dẫn gần nhất khuyến cáo dưới 140/90 mmHg; hướng dẫn của chúng tôi khuyến cáo mục tiêu là 130/80 mmHg”.

Whelton đã thảo luận lý do cho mục tiêu hạ huyết áp tích cực hơn ở mức dưới 130/80 mmHg với người lớn tuổi: “Phần lớn dựa trên thực tế là một số lượng lớn người lớn tuổi đã tham gia các thử nghiệm điều trị hạ huyết áp, đặc biệt là trong các thử nghiệm gần đây”.

Trong những nghiên cứu này, đáng chú ý là thử nghiệm SPRINT và ACCORD, điều trị hạ huyết áp áp làm giảm tỉ lệ mắc bệnh và tử vong do bệnh tim mạch (cardiovascular disease/CVD) mà không làm tăng nguy cơ về ngã hoặc hạ huyết áp tư thế.

Rà soát kỹ lưỡng 
Chủ trì buổi họp về hướng dẫn mới là tiến sĩ Stephen Hauser (Trường Y Lewis Katz, Đại học Temple, Philadelphia, PA), cựu Chủ tịch Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, chủ tịch đương nhiệm tiến sĩ John J Warner (Bệnh viện Đại học Y Southwestern UT, Dallas) và tiến sĩ Mary Walsh (Trung tâm Tim mạch St Vincent, Indiana, Carmel), chủ tịch đương nhiệm của Hội Tim mạch học Hoa Kỳ.

Hauser cho biết: “Chúng tôi thấy cần phải cập nhật các hướng dẫn này để phản ánh những mối đe dọa thực sự của tăng huyết áp và thiết lập một quy trình để có thể cải thiện sức khoẻ tim mạch của tất cả người dân Mỹ”.

Ông nói thêm: “Hướng dẫn này là sản phẩm được rà soát kỹ lưỡng trong 3 năm bởi một nhóm gồm 21 chuyên gia đã xem xét hơn 900 nguồn tài liệu”“Hướng dẫn tiếp tục trải qua nhiều vòng đánh giá khách quan và đã được hoàn thiện bởi nhóm chuyên gia tư vấn khoa học gồm 41 thành viên, tôi là một người trong số đó, và cũng như tất cả các tổ chức đối tác và hội đồng soạn thảo, tôi đã đọc chúng”.

Walsh cho biết: “Chúng tôi cập nhật hướng dẫn dựa trên các bằng chứng và liên tục theo dõi các nghiên cứu mới nhất”“Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ và Hội Tim mạch học Hoa Kỳ được chính phủ Hoa Kỳ giao cho trách nhiệm quản lý và đưa ra khuyến cáo điều trị tim mạch từ năm 2013. Ngay sau đó, hai tổ chức đã bắt đầu đặt nền móng cho khuyến cáo mới và phát triển nó trong 3 năm vừa qua”.

Theo bà: “Nhiều nhóm khác đã công bố các khuyến cáo về tăng huyết áp trong 4 năm vừa qua, tuy nhiên các khuyến cáo này không toàn diện và không được chứng nhận rộng rãi”“và hướng dẫn này là một sự hợp tác lớn của 11 tổ chức”.

Các tổ chức đối tác với AHA/ACC bao gồm Hội Trợ lý Bác sĩ Hoa Kỳ (American Academy of Physician Assistants/AAPA), Hội Y học Dự phòng Hoa Kỳ (American College of Preventive Medicine/ACPM), Hội Lão khoa Hoa Kỳ (American Geriatrics Society/AGS), Hiệp hội Dược sĩ Hoa Kỳ (American Pharmacists Association/APA), Hội Tăng huyết áp Hoa Kỳ (American Society of Hypertension/ASH), Hội Dự phòng Tim mạch Hoa Kỳ (American Society of Preventive Cardiology/ASPC), Hiệp hội Bác sĩ Tim mạch Da màu (Association of Black Cardiologists/ABC), Hiệp hội Y khoa Quốc gia (National Medical Association/NMA) và Hiệp hội Điều dưỡng Dự phòng Tim mạch (Preventive Cardiovascular Nurses Association/PCNA).


Người dịch: Nguyễn Đinh Hồng Phúc

Biện pháp ngừa thai bằng hormon hiện đại và nguy cơ ung thư vú

Có rất ít bằng chứng khoa học cho thấy liệu biện pháp ngừa thai bằng hormon hiện đại có liên quan tới nguy cơ ung thư vú gia tăng hay không.

Ngày hôm nay (7/12/2017), trên tạp chí y học NEJM có công bố một bài báo khoa học mà trong đó các tác giả đã công bố kết quả đánh giá mối quan hệ giữa việc sử dụng biện pháp ngừa thai bằng hormon và nguy cơ ung thư vú xâm lấn trong một nghiên cứu thuần tập theo thời gian trên toàn quốc (nationwide prospective cohort study) liên quan tới tất cả phụ nữ ở Đan Mạch từ 15 đến 49 tuổi chưa bị ung thư hoặc thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch và không điều trị vô sinh. Các cơ quan đăng ký trên toàn quốc đã cung cấp thông tin cập nhật cá nhân về việc sử dụng biện pháp ngừa thai bằng hormon, chẩn đoán ung thư vú và các yếu tố gây nhiễu tiềm ẩn.

Trong số 1,8 triệu phụ nữ được theo dõi trong vòng trung bình 10,9 năm (tổng cộng có 19,6 triệu người-năm [a total of 19.6 million person-years]), thì có tới 11517 trường hợp ung thư vú xảy ra. Khi so sánh với những phụ nữ không bao giờ sử dụng biện pháp ngừa thai bằng hormon, thì yếu tố nguy cơ tương đối ung thư vú ở tất cả những người đang sử dụng và gần đây có sử dụng biện pháp ngừa thai bằng hormon là 1,20 (95% confidence interval [CI], 1.14 to 1.26). Nguy cơ này tăng lên từ 1,09 (95% CI, 0.96 to 1.23) đối với người sử dụng dưới 1 năm đến 1,38 (95% CI, 1.26 to 1.51) đối với người sử dụng trên 10 năm (P = 0,002).

Sau khi ngừng dùng biện pháp ngừa thai bằng hormon, nguy cơ ung thư vú vẫn cao hơn ở những phụ nữ đã sử dụng các biện pháp ngừa thai bằng hormon trong ít nhất 5 năm so với những phụ nữ không sử dụng các biện pháp ngừa thai bằng hormon. Các ước lượng nguy cơ liên quan tới đang sử dụng hoặc gần đây có sử dụng các biện pháp ngừa thai kết hợp (estrogen - progestin) đường uống khác nhau thay đổi giữa 1,0 và 1,6. Những phụ nữ đang sử dụng hoặc gần đây có sử dụng dụng cụ trong tử cung phóng thích progestin (progestin-only intrauterine system) cũng có nguy cơ ung thư vú cao hơn những phụ nữ không bao giờ sử dụng các biện pháp ngừa thai bằng hormon(relative risk, 1.21; 95% CI, 1.11 to 1.33).

Toàn bộ sự gia tăng tuyệt đối ung thư vú được chẩn đoán trong số những phụ nữ đang sử dụng hoặc gần đây có sử dụng bất cứ biện pháp ngừa thai bằng hormon nào là 13 (95% CI, 10 to 16) trên 100.000 người-năm hoặc có thêm khoảng 1 phụ nữ bị ung thư vú cho mỗi 7690 phụ nữ sử dụng biện pháp ngừa thai bằng hormon trong 1 năm.

Như vậy, nguy cơ ung thư vú cao hơn ở những phụ nữ đang sử dụng hoặc gần đây có sử dụng các biện pháp ngừa thai bằng hormon hiện đại, và yếu tố nguy cơ này tăng lên khi thời gian sử dụng lâu hơn; tuy nhiên, sự gia tăng tuyệt đối nguy cơ là nhỏ.

Nguồn:Bacsinoitru.vn

Bệnh tim mạch: “Sát thủ thầm lặng” không loại trừ ai

Thực tế này cho thấy sự cần thiết của việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân về nguy cơ cũng như mức độ nguy hiểm của bệnh, từ đó có chế độ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe tim mạch hợp lý.

Nguyên nhân nào dẫn đến vấn đề về  tim mạch?

Nhiều người vẫn cho rằng, chỉ những người cao tuổi mới mắc các bệnh lý về tim mạch, tuy nhiên thực tế ở Việt Nam đang chứng minh rằng, bệnh lý tim mạch đang có xu hướng “trẻ hóa” bởi tỷ lệ thanh niên mắc chứng nhồi máu cơ tim, hay đột tử đang ngày càng tăng cao. Như vậy, không chỉ người cao tuổi, ngay cả những người trẻ tuổi cũng có nguy cơ mắc bệnh.
Có rất nhiều lý do dẫn đến vấn đề về tim mạch, có thể những thói quen, sở thích mà bạn đang thực hiện mỗi ngày chính là nguyên nhân chủ yếu nhưng bạn lại không nhận ra điều đó.
Hút thuốc: Yếu tố hàng đầu làm tăng nguy cơ gây ra các bệnh lý động mạch vành, tăng huyết áp...

Béo phì: Tăng cholesterol máu khiến quá trình xơ vữa động mạch phát triển nhanh. Đây cũng là yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh tăng huyết áp, các bệnh về động mạch chủ, động mạch vành, chi dưới... Ngoài ra, lười vận động thể lực đều có nguy cơ cao các bệnh về tim mạch.
Stress: Những triệu chứng căng thẳng, stress về tâm lý đều có thể dẫn đến những bệnh lý về tim mạch,
Đái tháo đường: Đây là nguyên nhân lớn gây ra bệnh tim mạch. Ngoài ra, gene di truyền và tuổi cao cũng sẽ dẫn đến những vấn đề về bệnh tim mạch.
Các nguyên nhân khác: Do bẩm sinh, viêm ngoài màng tim, viêm cơ tim...
Dấu hiệu cho thấy bạn đang mắc các bệnh lý về tim mạch
Khó thở: Triệu chứng khó thở xuất hiện nhiều lúc khi làm việc nặng, sau khi tập thể dục, thậm chí khi bạn không làm gì... Khó thở có thể là do vận động quá sức hoặc lo lắng về việc gì đó. Nhưng đôi khi khó thở cũng có thể là triệu chứng bệnh về tim, báo hiệu chuẩn bị hoặc đang lên cơn đau tim, trụy tim.
Đau ngực: Đau ngực có thể do bệnh phổi hoặc bệnh về xương, bệnh thực quản hoặc các bệnh đường tiêu hóa, tuy nhiên đau ngực cũng là triệu chứng phổ biến của nhiều bệnh tim mạch gây nên. Nguyên nhân thường gặp nhất của đau ngực do tim là thiếu máu cơ tim cục bộ.
Hồi hộp, choáng và ngất: Hồi hộp, choáng và ngất có thể do các bệnh lý tim mạch làm tăng thể tích nhát bóp (hở van tim, nhịp chậm) hoặc có thể là dấu hiệu của rối loạn nhịp tim. Nếu như nhịp tim bất thường kết hợp giảm đáng kể huyết áp và cung lượng tim, gây choáng váng, mờ mắt, mất ý thức (ngất) hoặc các triệu chứng khác.
Phù: Trong bệnh tim, phù do tăng áp lực nhĩ phải gây ra. Phù báo hiệu các bệnh về tim như bệnh màng ngoài tim, bệnh van tim bên phải và chứng tim phổi mạn. Phù cũng có thể do suy tĩnh mạch. Trường hợp suy tim phải nặng có thể gây ra cổ trướng và hầu như bao giờ cũng đi kèm với phù.

Các bệnh tim mạch thường gặp

Tăng huyết áp: Người cao tuổi thường mắc bệnh tăng huyết áp gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và dễ dẫn đến tình trạng bị nhồi máu cơ tim, tắc nghẽn cơ tim, đột quỵ... Khi bị bệnh cần điều trị thuốc hạ huyết áp hàng ngày kết hợp với chế độ ăn uống, luyện tập phù hợp.
Bệnh mạch vành: Bệnh mạch vành là bệnh lý về tim mạch nguy hiểm nhưng việc nhận biết sớm bệnh lại rất khó khăn, bởi các triệu chứng ban đầu của bệnh động mạch vành rất mơ hồ, thường là bằng những cảm giác nặng ngực hay cơn đau thắt ngực bên trái. Cơn đau xuất hiện khi xúc động, gắng sức và thường xuất hiện vào buổi sáng. Tần suất và cường độ các cơn đau ngày một tăng và nặng hơn.
Tai biến mạch máu não: Các thể bệnh tai biến mạch máu não hay gặp nhất còn gọi là đột quỵ: Co thắt mạch máu não, thiếu máu não thoáng qua, nhồi máu não, vỡ mạch máu não... Nặng nhất là xuất huyết ồ ạt gây ngập não thất làm cho bệnh nhân tử vong trong vòng 1 - 2 giờ đồng hồ. Các dấu hiệu dễ nhận thấy nhất là bệnh nhân bị đau đầu dữ dội, chóng mặt, tay chân yếu hoặc liệt và đi vào hôn mê. Việc đề phòng quan trọng nhất là phải phát hiện sớm bệnh tăng huyết áp và tình trạng xơ vữa động mạch, để điều trị tốt.
Bệnh động mạch ngoại biên: Bệnh viêm tắc động mạch ngoại vi có hai thể: Bệnh Buerger là tình trạng viêm của 3 lớp thành động mạch, xảy ra ở những bệnh nhân trẻ, tuổi dưới 40, nghiện thuốc lá nặng. Bệnh động mạch ngoại vi thứ hai hay gặp nhất là tình trạng viêm và tắc động mạch do xơ vữa động mạch, xảy ra ở những người bị bệnh tăng huyết áp và có rối loạn chuyển hóa mỡ. Các triệu chứng ban đầu của bệnh còn khá mơ hồ, bắt đầu bằng tình trạng đau cách hồi, đau khi đi lại, các cơn đau ngày càng tăng lên, đến một lúc nào đó bệnh nhân đau ngay cả khi nghỉ ngơi và xuất hiện những vết loét, hoại tử của chi...
Bệnh van tim do thấp tim: Loại bệnh này hay gặp ở những vùng có khí hậu ẩm ướt, nhiệt đới gió mùa như ở Việt Nam. Bệnh có nguyên nhân nhiễm vi trùng liên cầu khuẩn tan máu nhóm A. Khi bị nhiễm loại vi trùng này, cơ thể sẽ sinh ra một loại kháng thể chống lại nó. Bản thân các kháng nguyên là loại vi trùng lại có cấu trúc gần giống với cấu trúc của mô khớp và van tim. Vì vậy,  khi kháng thể tấn công tiêu diệt vi khuẩn nó cũng tấn công làm tổn thương mô khớp và van tim luôn, làm cho khớp bị sưng lên, còn van tim thì biến dạng gây ra hẹp hở van tim... Từ đó đưa đến suy tim, thậm chí tử vong.
Bệnh tim bẩm sinh: Bệnh tim bẩm sinh là bệnh về tim hay gặp nhất ở Việt Nam. Bệnh thường biểu hiện bằng tình trạng khó thở, hay bị viêm phổi, tím tái và đứa trẻ thường bị suy dinh dưỡng nặng.
Phình động mạch chủ bóc tách: Phình động mạch chủ bóc tách là một biến chứng rất nặng của phình động mạch chủ. Người bệnh có thể bị đau ngực dữ dội đến ngất đi. Có nhiều trường hợp bệnh nhân tử vong ngay trong giai đoạn bệnh mới bắt đầu.
Viêm cơ tim: Viêm cơ tim có thể xảy ra ở những người khoẻ mạnh trước đó không hề bị bệnh tim và gây ra tình trạng đột tử. Khi cơ thể mệt mỏi các loại siêu vi trùng xâm nhập vào cơ thể tấn công lên cơ tim,  nhất là siêu vi trùng loại Coxacki. Ngoài ra, có thể bị viêm cơ tim do hóa chất, do sự tăng quá nhiều của hormon tuyến giáp... Ở những bệnh nhân này, tình trạng viêm cơ tim có thể đưa đến suy tim và bệnh nhân bị tử vong nếu không phát hiện ra và không được điều trị.

Tầm soát và phòng ngừa các bệnh lý về tim mạch như thế nào?

Có nhiều phương pháp khác nhau để điều trị bệnh tim mạch như thay đổi lối sống, dùng thuốc, phẫu thuật hay can thiệp mạch cũng là một phần của việc điều trị. Trong quá trình điều trị, bạn sẽ phải thay đổi lối sống như: Ăn ít chất béo, tập luyện 30 phút mỗi ngày, bỏ hút thuốc, uống rượu. Sử dụng thuốc hạ huyết áp, thuốc lợi tiểu, uống aspirin hàng ngày, dùng thuốc hạ cholesterol. Có thể phẫu thuật sửa, thay van tim nếu có chỉ định. Đối với mạch vành kỹ thuật hay làm là nong mạch vành hoặc đặt stent mạch vành.
Để tầm soát và phòng ngừa các bệnh lý về tim mạch, mỗi người cần thực hiện:
Thay đổi khái niệm khám sức khỏe: Không phải khi cơ thể thật sự mệt mỏi, ốm yếu mới cần đi khám mà nên đi khám định kỳ ngay cả khi cơ thể đang khỏe mạnh và hoạt động bình thường. Tầm soát tổng quát sức khỏe tim mạch là cách tốt nhất để phát hiện sớm cũng như phòng và điều trị bệnh hiệu quả.
Ngưng hút thuốc lá: Hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ chính đối với bệnh tim, đặc biệt là xơ vữa động mạch. Nếu hút thuốc, bỏ thuốc là cách tốt nhất để giảm nguy cơ bệnh tim và biến chứng của nó.
Hạn chế rượu bia: Uống rượu nhiều, dài ngày sẽ gây tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim, thiếu máu cơ tim.
Kiểm soát huyết áp:  Hãy kiểm soát huyết áp ở mức an toàn. Huyết áp tốt nhất là dưới 120 tâm thu và tâm trương 80, được đo bằng milimet thủy ngân (mm Hg).
Tiêu thụ nhiều rau xanh, hoa quả, cá: Rau xanh chứa nhiều chất chống oxy hóa, giúp tăng cường sức khỏe cho hệ tim mạch, làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim nhờ khả năng chống viêm đối với mạch máu.
Loại bỏ các chất béo có hại: Chất béo bão hòa có trong bơ, sữa, thịt... là “thủ phạm” khiến mức độ cholesterol xấu tăng và giảm cholesterol tốt. Trong bữa ăn hàng ngày chỉ nên có khoảng 1%  thức ăn chứa chất béo bão hòa. Những thực phẩm như bơ thực vật, dầu, đồ chiên xào, đồ ngọt... cũng phải hạn chế.
Siêng năng tập thể dục: Tác dụng tốt của tập thể dục là làm tăng lipoprotein tốt và giảm lipoprotein mật độ thấp. Chỉ cần đi bộ mỗi ngày 30 phút là đã giúp điều hòa hệ tim mạch, tăng cường nhịp tim và giảm nguy cơ mắc bệnh về tim mạch.

BSCKII. Lê Xuân Bách

Thay đổi vượt bậc trong phẫu thuật cột sống

Tại hội thảo “Ứng dụng hệ thống T2 Altitude trong chấn thương cột sống và thay thân đốt sống nhân tạo” tổ chức tại BV Bạch Mai ngày 18/10, TS.BS Hoàng Gia Du - Trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình cho biết, hệ thống định vị không gian 3 chiều chính xác O-ARM được đưa về ứng dụng tại Bệnh viện Bạch Mai từ cuối năm 2016. Tuy nhiên đây là lần đầu tiên Bệnh viện Bạch Mai kết hợp hệ thống này với thân đốt sống nhân tạo T2 Altitude
Bệnh nhân Lại Thị Hồng Hạnh (42 tuổi, Thái Bình) vào Khoa Chấn thương chỉnh hình và phẫu thuật cột sống, - Bệnh viện Bạch Mai trong tình trạng suy kiệt, chỉ nặng 30-35 kg, không thể tự đi lại, đau lưng nhiều, tê yếu 2 chân. Đi khám tại BV Bạch Mai, các bác sỹ chẩn đoán bệnh nhân bị lao cột sống được phát hiện tổn thương thân đốt sống 11,12 cột sống ngực.
Các bác sĩ chỉ định phẫu thuật để cố định cột sống đoạn bị tổn thương, giải phóng chèn ép thần kinh. Gần 1 tháng sau phẫu thuật, kết hợp điều trị thuốc lao, bệnh nhân hiện đã tiến triển rất nhiều, có thể tự ngồi dậy và đi lại. Tuy nhiên phần tổn thương đốt sống do lao vẫn còn, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và sinh hoạt của người bệnh.
Bệnh nhân Lại Thị Hồng Hạnh chính là trường hợp đầu tiên được các bác sĩ của Khoa  Chấn thương hỉnh hình và phẫu thuật cột sống, Bệnh viện Bạch Mai ứng dụng hệ thống T2 Altitude trong chấn thương cột sống và thay thân đốt sống nhân tạo.
“Lúc đầu tôi và gia đình rất lo lắng, băn khoăn. Nhưng khi được bác sĩ giải thích cặn kẽ, tôi đã yên tâm hơn, tin tưởng hoàn toàn vào các thầy thuốc nơi đây. Với kỹ thuật mới và hiện đại lần đầu tiên được triển khai tại Việt Nam, tôi tin tưởng mình sẽ nhanh chóng phục hồi sức khỏe”- chị Hạnh nói.
Theo TS.BS Hoàng Gia Du, cột sống là một bộ phận rất quan trọng trong cơ thể con người, là bộ khung để giữ hình thái, nâng đỡ khối trọng lượng cơ thể, bảo vệ tủy sống và điều khiển các cử động của cơ thể. Khi cột sống bị thoái hóa, thoát vị đĩa đệm, chấn thương, biến dạng hoặc dị tật sẽ ảnh hưởng đến các chức năng của cơ thể, gây các triệu chứng như: cơ thể tê bì, đau nhức và vận động khó khăn. Khi đó để xử lý các bệnh lý trên, bác sĩ phải tiến hành can thiệp bằng phẫu thuật cột sống. Hiện nay, trên thế giới có nhiều phương pháp phẫu thuật cột sống, tùy theo tổn thương của từng bệnh nhân mà các bác sĩ chuyên khoa sẽ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.
“Phẫu thuật cột sống thường liên quan đến tủy sống, rễ thần kinh, mạch máu và cấu trúc xương dây chằng xung quanh, chỉ sai số 1 mm thôi là vị trí cần can thiệp đã đi rất xa. Trong quá trình phẫu thuật, bác sỹ vừa phải đảm bảo sự an toàn, tránh làm tổn thương thêm cho tủy sống, rễ thần kinh, mạch máu gây liệt, mất máu … vừa phải xử lý được tổn thương (thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống, dị dạng, u đốt sống, chấn thương …) đồng thời tái tạo lại cấu trúc sinh lý của cột sống bằng việc sử dụng vật liệu thay thế như nẹp vít, ốc, đĩa đệm nhân tạo, nẹp silicon … “- TS Hoàng Gia Du nói

Cũng theo TS Hoàng Gia Du, trong quá trình phẫu thuật cột sống, chỉ cần sai lệch 1-2 mm có thể khiến cho bệnh nhận bị liệt, tàn phế suất đời, thậm chí tử vong…
Do đó, việc ứng dựng hệ thống O-arm giúp cho bác sĩ tiến hành được các ca phẫu thuật bệnh lý cột sống cho người bệnh an toàn, hiệu quả hơn vì hệ thống này cung cấp hình ảnh không gian 3D với độ phân giải cao, toàn diện giúp cho bác sĩ phẫu thuật biết rõ chính sác vị trí cần can thiệp tại cột sống, nhằm tránh ảnh hưởng các tổ chức xung quanh.
TS.BS Hoàng Gia Du cho hay hệ thống O-arm giúp cho bác sĩ, phẫu thuật viên tăng độ chính xác của vị trí bắt vít cột sống, làm giảm tỷ lệ phẫu thuật lại do bắt sai vị trí. “Sử dụng O-arm cùng với hệ thống định vị phẫu thuật, độ chính xác về vị trí bắt vít cột sống lên đến 93% - 100% so với tỷ lệ từ 72% - 92% của phương pháp thông thường. Đồng thời, giảm biến chứng phẫu thuật, cũng như giảm tiếp xúc với bức xạ cho bệnh nhân, phẫu thuật viên và nhân viên y tế…”- TS. BS Du nhấn mạnh.
Các bác sĩ đang tiến hành phẫu thuật cho bệnh nhân bằng ứng dụng hệ thống T2 Altitude trong chấn thương cột sống và thay thân đốt sống nhân tạo
Hơn nữa, hệ thống này còn giảm tổn thương mô, giảm sử dụng của thuốc và đau hậu phẫu vàrút ngắn thời gian phục hồi của bệnh nhân, với bệnh nhân bị cong vẹo cột sống được thực hiện phẫu thuật bằng O-arm sau 3 ngày đã có thể đi lại được bình thường.
“Hệ thống định vị không gian 3 chiều chính xác O-arm được đưa về ứng dụng tại BV Bạch Mai từ cuối năm 2016. Tuy nhiên đây là lần đầu tiên Bệnh viện kết hợp hệ thống này với thân đốt sống nhân tạo T2 Altitude”- TS Hoàng Gia Du nói
Ưu điểm của thân đốt sống nhân tạo có thể mở rộng T2 Altitude với tính năng căng giãn tại chỗ, kết cấu chặt chẽ và dễ dàng lắp đặt, được các chuyên gia đánh giá là một giải pháp tối ưu cho trục trước cột sống.
T2 Altitude được chỉ định trong chấn thương cột sống và thay thân đốt sống các trường hợp: Chấn thương gãy thân đốt sống vùng lưng ngực; Mất vững – xẹp đốt sống do loãng xương; Nhiễm trùng lao thân đốt sống; U cột sống ngực, cột sống cổ, lưng…
Theo:SK&DS